Nhận định - Phản biện

Phản biện, kiến nghị chính sách phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Phần 2)

06:07 |13/07/2012

 - 

Kỳ trước, NangluongVietnam đã chuyển đến bạn đọc nội dung phần đầu Văn bản kiến của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA), đánh giá việc thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng điện lực của Việt Nam đến năm 2020, nhận định chung về ngành năng lượng Việt Nam, xây dựng cơ sở hạ tầng điện lực đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tóm tắt mục tiêu, nhu cầu vốn đầu tư của QHĐVII… Trong (Phần 2) NangluongVietnam xin trân trọng giới thiệu nội dung phản biện, kiến nghị của VEA về quy hoạch tổng thể hệ thống năng lượng quốc gia, tái cơ cấu ngành Điện gắn với việc xây dựng thị trường điện cạnh tranh và giá điện...

>> Phản biện, kiến nghị chính sách phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Phần 1)

2. Quy hoạch tổng thể Hệ thống năng lượng quốc gia

2.1. Sự cần thiết của Quy hoạch tổng thể hệ thống năng lượng quốc gia

Ngành năng lượng càng lớn mạnh, hệ thống năng lượng càng phức tạp, đa dạng thì quá trình phát triển càng đòi hỏi tính cân đối, thống nhất và hiệu quả cao hơn; trên thực tế nhiều năm qua chúng ta chưa thực hiện được Quy hoạch tổng thể Hệ thống năng lượng quốc gia.

Trong quá trình phát triển cho tới nay, chúng ta đã xây dựng được các Quy hoạch phân ngành như: Chiến lược Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia (7 lần), Quy hoạch phát triển ngành than (5 lần), Quy hoạch phát triển dầu, khí (3 lần), Quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo (dự thảo lần 1) và Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia (lần đầu tiên được phê duyệt vào ngày 27 tháng 12 năm 2007).

Bên cạnh nhiều đóng góp của các Quy hoạch và Chiến lược nêu trên đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như góp phần định hướng quan trọng cho các phân ngành năng lượng; cơ sở để lập kế hoạch phát triển các công trình năng lượng phục vụ phát triển kinh tế quốc dân; xây dựng và hoàn thiện dần các bộ tư liệu, số liệu phục vụ tính toán kế hoạch và quản lý nhà nước về năng lượng … thì vẫn còn một số nhược điểm và bất cập như sau:

- Tư liệu, số liệu phục vụ Quy hoạch thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, thiếu thẩm định.

- Cơ cấu, tỷ lệ đầu tư chưa hợp lý giữa các phân ngành, giữa các giai đoạn quy hoạch.

- Giá cả của các loại nhiên liệu - năng lượng là đầu vào, đầu ra của nhau, nhưng thiếu sự cân đối và tương quan hợp lý. Điển hình giá than nội địa tính cho các dự án NMNĐ chạy than trong Quy hoạch phát triển điện lực không phản ánh thực sự đầy đủ thành phần chi phí nhiên liệu trong giá thành sản xuất điện (giá than bán cho điện chỉ bằng 50% giá thành của ngành than).

Theo VEA, thời gian Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực hợp lý - là phải sau thời gian phê duyệt quy hoạch phát triển các phân ngành năng lượng sơ cấp như: than, dầu khí và quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo, vì như vậy sẽ đảm bảo được độ tin cậy; đồng thời phải tổ chức xây dựng đồng bộ cho 10 năm và có định hướng cho 10 năm tiếp theo.

Cụ thể đối với HĐVII đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 21 tháng 7 năm 2011, nhưng Quy hoạch phát triển ngành Than đến năm 2020 có xét triển vọng đến năm 2030 lại được phê duyệt vào ngày 09 tháng 01 năm 2012 (chậm so với QHĐVII 6,5 tháng); trong khi Quy hoạch ngành dầu khí Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 thì chưa có, chỉ có Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, định hướng đến năm 2025 (không đồng bộ về thời gian) được phê duyệt vào ngày 30 tháng 3 năm 2011; còn Quy hoạch ngành Năng lượng tái tạo Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 thì chưa có.

Tóm lại, ngành năng lượng là một ngành mang tính hệ thống lớn, theo quan điểm lý thuyết hệ thống rất cần thiết phải xây dựng Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia cho nhiều năm sau.

2.2. QHĐVII - những bất cập và một số quan điểm của VEA

Dự báo nhu cầu điện của QHĐVII cho kết quả năm 2015: từ 194 - 201tỷ kWh, năm 2020: 330 - 362 tỷ kWh, năm 2030: 695- 834 tỷ kWh.

Từ đó Hiệp hội đã đưa ra một vài nhận xét như sau:

Cường độ tiêu thụ điện đối với GDP (kWh/USD) của Việt Nam năm 2010: 1,0; năm 2020:1,5; năm 2030: 1,7 - 2,0. Trong khi đó, giá trị này ở nhiều nước đều nhỏ hơn 1 (theo tài liệu của Cơ quan Năng lượng quốc tế năm 2010). Ở nước ta, trong nhiều năm qua giá trị này xấp xỉ 1 đã là cao, nay dự báo có xu thế ngày càng lớn (1,5 - 2,0), phải chăng kết quả dự báo cho thấy ta đang thụt lùi so với chính mình, chưa nói so với các nước khu vực và trên thế giới.

Mặt khác, thực tế đang diễn ra sự suy giảm kinh tế ở phạm vi nhiều nước trên thế giới hiện nay, trong đó có nước ta, tiêu dùng điện của cả nước trong năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012 ở mức thấp hơn 14,5%/năm, đây là số liệu đã được dùng làm thông tin cơ sở cho việc dự báo nhu cầu điện các năm trong tương lai như nêu trên (trên thực tế thì việc tăng trưởng điện trong năm 2011 và 6 tháng năm 2012 là 8-9%).

Theo quan điểm VEA, việc thực hiện được yêu cầu của QHĐVII về giảm hệ số đàn hồi điện đến năm 2015 xuống 1,5 và năm 2020 còn 1,0 kết hợp với thực hiện Chương trình sử dụng điện hiệu quả và tiết kiệm đang được triển khai là rất khó khăn. Như đánh giá thực tế tình hình triển khai các dự án điện nêu trên thì dự báo nhu cầu tiêu thụ điện đến năm 2015 và 2020 sẽ giảm đi đáng kể.

Việc giảm nhu cầu tiêu thụ điện có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giảm gánh nặng đầu tư nguồn, lưới điện; đặc biệt giảm mạnh công suất nguồn nhiệt điện than dẫn tới giảm nhu cầu tiêu thụ than.

Từ đó, VEA kiến nghị với Chính phủ cùng với các cơ quan liên quan cần tính toán lại một cách thực tế và hợp lý về các số liệu đề ra trong QHĐVII cũng như các phân tích của VEA nêu trên để có những căn cứ mới thực hiện Quyết định QHĐVII một cách tốt nhất.

3. Tái cơ cấu ngành điện gắn với việc xây dựng thị trường điện cạnh tranh và giá điện

3.1. Thị trường điện Việt Nam hiện nay và lộ trình hướng tới thị trường điện cạnh tranh

Phát triển thị trường điện cạnh tranh là xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới, là động lực cho hoạt động hiệu quả trong sản xuất kinh doanh điện và phát triển kinh tế xã hội. Theo xu hướng này, Chính phủ đã phê duyệt lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam (Quyết định số 25/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006) theo 3 cấp độ: Thị trường phát điện cạnh tranh (giai đoạn 2005 - 2014); Thị trường bán buôn cạnh tranh (giai đoạn 2014 - 2022); Thị trường bán lẻ cạnh tranh (giai đoạn sau năm 2022).

Tuy nhiên, công tác chuẩn bị cho các giai đoạn phát triển thị trường điện ở nước ta cho đến nay triển khai hết sức chậm và hầu như chưa có chuyển biến gì.

Hoạt động của ngành Điện đến thời điểm này vẫn ở thế độc quyền, đang vận hành theo mô hình liên kết dọc truyền thống. EVN hiện đang sở hữu phần lớn công suất các nguồn điện, nắm giữ toàn bộ hệ thống điều độ điện quốc gia (Ao), hệ thống truyền tải điện, hệ thống phân phối và kinh doanh - kể cả điện bán buôn và bán lẻ. EVN giữ vai trò là đơn vị mua điện duy nhất, Tổng Công ty mua bán điện thuộc EVN mua điện năng từ các nhà máy điện khác ngoài EVN để phân phối và bán lẻ điện cho các khách hàng cả nước.

Có thể nói, cho đến nay EVN vẫn là tổ chức duy nhất độc quyền kinh doanh điện trong toàn quốc, chưa có sự cạnh tranh mang tính chất thị trường ở bất cứ hoạt động nào trong ngành điện.

Tuy được độc quyền kinh doanh điện như vậy nhưng kết quả kinh doanh được thông báo là lỗ và theo các số liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy, EVN vẫn là một trong những doanh nghiệp nhà nước đang có số dư vay nợ từ các ngân hàng trong nước và nước ngoài ở mức cao chưa từng có so với thời gian trước đây.

3.2. Giá điện ở Việt Nam

Giá điện ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay đã điều chỉnh tăng trên chục lần. Năm 2011 điều chỉnh 2 lần: ngày 01 tháng 3 năm 2011 tăng 15,28% so với năm 2010 và ngày 20 tháng 12 năm 2011 tăng 5%, đến ngày 01/07/2012 tăng tiếp 5%.

Tính đến nay giá điện bình quân (kể cả thuế VAT) là 1.506VNĐ/kWh (tương đương 7,2 USc/kWh). Giá điện qua các kỳ điều chỉnh còn mang nặng cơ chế hành chính, thiếu cơ sở khoa học, thiếu minh bạch, nên khó thuyết phục được sự đồng thuận của các nhà quản lý, các nhà khoa học, đặc biệt các khách hàng sử dụng điện. Việc điều chỉnh giá điện mới chú ý đến yếu tố làm tăng giá điện mà chưa quan tâm đến yếu tố làm giảm giá điện trong thời kỳ tăng công suất của các nhà máy thủy điện trong mùa mưa, giảm tổn thất, giảm giá thành… (Theo cơ chế thị trường thì giá điện phải có lúc tăng và đồng thời có lúc giảm).

NangluongVietnam

Kỳ tới: "Kiến nghị của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam tới các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ chính sách phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030"



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3