Nhận định - Phản biện

Cần quyết sách lớn phát triển công nghiệp bô xít Tây Nguyên (Kỳ 1)

08:15 |18/06/2013

 - 

Mặc dù là vùng giàu tài nguyên, nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên vẫn thuộc diện nghèo, ngân sách nhà nước vẫn phải hỗ trợ hàng năm. Vấn đề rút ra là, chúng ta có nguồn tài nguyên bô xít dồi dào, có thể khai thác hàng trăm năm, thì gần như chưa được khai thác, do vậy chưa đóng góp gì cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và Tây Nguyên nói riêng. PGS, TS. Nguyễn Cảnh Nam - Vinacomin (thành viên Hội đồng Phản biện & Biên tập Tạp chí Năng lượng Việt Nam/ NangluongVietnam.vn) cho rằng, chúng ta cần có những quyết sách lớn, sáng suốt, kịp thời... để định hướng chiến lược phát triển công nghiệp bô xít tại Tây Nguyên trong tương lai tới. 

>> Thực hư chuyện lỗ lớn của Dự án Alumin Tân Rai thế nào?

PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM

Sự cần thiết phải đẩy mạnh khai thác, chế biến bô xít

Thứ nhất: Tài nguyên khoáng sản bô xít nước ta dồi dào, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, đa phần là quặng gibbsite có chất lượng đáp ứng yêu cầu, điều kiện khai thác mỏ thuận lợi và đang có nhu cầu ngày càng tăng của các nhà máy chế biến alumin trên thế giới.

Theo Dự thảo Quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến quặng bôxit giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2030 thì tổng trữ lượng và tài nguyên quặng bôxit các mỏ đã và đang thăm dò khoảng 5,625 tỷ tấn quặng nguyên khai, tương đương khoảng 2,472 tỷ tấn tinh quặng. Tài nguyên dự báo của các mỏ điều tra cơ bản trong giai đoạn 2012-2015 khoảng 4,050 tỷ tấn quặng nguyên khai, tương đương 1,536 tỷ tấn tinh quặng.

Như vậy, nếu khai thác với sản lượng 20 triệu tấn tinh quặng mỗi năm thì chí ít cũng được trên 150 năm; còn nếu với mức sản lượng của 2 nhà máy alumin Tân Rai và Nhân Cơ thì khoảng 1.000 năm.

Thứ hai: Thực hiện Quy hoạch công nghiệp bô xít đã được phê duyệt năm 2007, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) đã được Nhà nước cấp phép thăm dò, khai thác các mỏ bô xít chính ở Tây Nguyên (Đắc Nông, Lâm Đồng), đầu tư xây dựng và cơ bản hoàn thành, chuẩn bị đưa vào hoạt động thương mại nhà máy alumin Tân Rai (Lâm Đồng) công suất 650 ngàn tấn/năm và đang đầu tư xây dựng nhà máy alumin Nhân Cơ (Đắc Nông) công suất 650 ngàn tấn/năm, dự kiến sẽ đưa vào hoạt động trong năm 2014.

Tổng cộng công suất 2 nhà máy sẽ là 1,3 triệu tấn/năm. Hiện nay Vinacomin đang chuẩn bị xây dựng nhà máy thủy điện và nhiệt điện để phục vụ cho điện phân nhôm và tìm đối tác để cùng hợp tác xây dựng nhà máy điện phân nhôm với công suất dự kiến 0,3-0,6 triệu tấn/năm.

Nếu không có nhà máy điện phân nhôm thì toàn bộ alumin của Vinacomin đều phải xuất khẩu. Điều đó gặp một số khó khăn là:

(1) Chi phí vận chuyển bằng đường bộ từ Tây Nguyên đến cảng biển rất cao (khoảng 23÷25 $/tấn).

(2) Khả năng vận tải bằng đường bộ là hạn chế, nhất là trong thời gian tới khi quy mô nhu cầu vận chuyển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của Tây Nguyên tăng cao.

(3) Giá và thị trường xuất khẩu alumin hiện còn có những bất lợi, nhất là giá mới chỉ phục hồi ở mức thấp.

Thứ ba: Nhu cầu nhôm kim loại của Việt Nam tăng cao, chỉ riêng nhập khẩu chính ngạch năm 2008, Việt Nam đã nhập khẩu nhôm với giá trị lên tới 734,6 triệu USD tương ứng khoảng gần 300.000 tấn nhôm/năm. Nếu tính cả nhập khẩu tiểu ngạch thì con số còn lớn hơn.

Theo dự báo nhu cầu nhôm đến năm 2015 của Việt Nam khoảng 0,4-0,5 triệu tấn; năm 2020 sẽ lên tới 0,75 - 1,0 triệu tấn và năm 2030 là 1,6 - 2,0 triệu tấn. Cho đến nay Việt Nam chưa có cơ sở luyện nhôm nào và toàn bộ nhu cầu nhôm trong nước đều được đáp ứng từ nguồn nhập khẩu với giá trị sẽ lên tới hàng tỉ USD mỗi năm, "góp phần" đáng kể vào việc nhập siêu hiện nay.

Thứ tư: Tình hình kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên còn nhiều khó khăn, bất cập. Mặc dù là vùng giàu tài nguyên, nhất là bô xít, đã được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm đầu tư phát triển, nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên, nhất là tại các địa phương có mỏ bô xít vẫn thuộc diện nghèo, kém phát triển; văn hóa, xã hội, môi trường có nhiều vấn đề bức xúc, ngân sách nhà nước vẫn phải hỗ trợ hàng năm. [1]

Thứ năm: Tình hình ngành công nghiệp bô xít - alumin - nhôm thế giới:

Phần lớn các nhà sản xuất alumin lớn hiện đang rất thiếu nguồn cung bô xít có chất lượng cao và dự kiến sẽ càng thiếu hụt hơn trong những năm tới. Ngược lại, nguồn cung bô xít chất lượng cao đang giảm dần, ngày càng khó mua và việc cấp phép khai thác các mỏ mới ngày càng khó khăn hơn.

Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến alumin, nhôm của Trung Quốc và Trung Đông đang giảm dần sự tích hợp theo chiều dọc (khai thác bô xít, chế biến alumin, luyện nhôm; tức là mỏ bô xít - nhà máy alumin - nhà máy luyện nhôm nằm trong một dây chuyền khép kín) do các mỏ trực tiếp cung cấp bô xít đã bị khai thác cạn kiệt trữ lượng.

Những nhà sản xuất alumin hiện thiếu nguồn cung bô xít - đang phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung bô xít được vận chuyển bằng đường biển từ bên thứ 3 - những nhà cung cấp bô xít nằm ngoài dây chuyền khai thác bô xít - chế biến alumin - luyện nhôm có sẵn nêu trên).

Thứ sáu: Chính sách của Nhà nước về khoáng sản:

Điều 3, Luật Khoáng sản (2010) quy định một số chính sách như sau:

- Nhà nước đầu tư thăm dò, khai thác một số loại khoáng sản quan trọng để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.

- Nhà nước khuyến khích dự án đầu tư khai thác khoáng sản gắn với chế biến, sử dụng khoáng sản để làm ra sản phẩm kim loại, hợp kim, hoặc các sản phẩm khác có giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội.

- Nhà nước có chính sách xuất khẩu khoáng sản trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, trên nguyên tắc ưu tiên bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước.

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện hình thành, phát triển một ngành công nghiệp bô xít hiện đại, quy mô lớn trong thời gian tới.

Như vậy, vấn đề rút ra là một nguồn tài nguyên bô xít dồi dào, có thể khai thác hàng trăm năm và rất có giá trị với khả năng đóng góp đáng kể cho đất nước thì gần như chưa được khai thác và do vậy chưa đóng góp gì cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của Tây Nguyên nói riêng. Điều đó chẳng khác gì “ngồi trên miệng giếng mà vẫn bị khát nước”.

Những khó khăn, thách thức

Thứ nhất: Trong nước thiếu vốn đầu tư, thiếu công nghệ và kinh nghiệm trong lĩnh vực chế biến alumin, điện phân nhôm, xử lý bùn đỏ, hoàn thổ, phục hồi môi trường và thiếu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, trong khi nhu cầu vốn đầu tư chế biến bô xít và xây dựng cơ sở hạ tầng (GTVT, nhà máy điện…) rất cao.

Thứ hai: Hệ thống cơ sở hạ tầng ở Tây Nguyên, nhất là GTVT, điện, cấp nước còn nhiều khó khăn, yếu kém.

Thứ ba: Do nhiều nguyên nhân, nên quá trình thực hiện đầu tư 2 nhà máy alumin Tân Rai (Lâm Đồng) và alumin Nhân Cơ (Đắc Nông) gặp nhiều khó khăn, tiến độ thực hiện chậm làm cho chi phí đầu tư tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, nhất là hiều quả tài chính. Điều đó khiến cho dư luận lo ngại và gây cản trở cho việc việc tiếp tục đầu tư phát triển.

Toàn cảnh nhà máy sản xuất alumina Tân Rai, Lâm Đồng nhìn từ khu bùn đỏ. (Ảnh: dantri)

Thứ tư: Theo một số nguồn tin thì hiện đang có sự dư thừa lớn trong công suất của ngành công nghiệp chế biến alumina và luyện nhôm trên toàn cầu, chủ yếu do suy giảm kinh tế nên nhu cầu thị trường suy giảm. Căn cứ vào mức giá bán và giá thành hiện hành, nhiều nhà sản xuất alumin, nhôm hiện nay không có lãi và bị thu hẹp sản xuất hoặc đóng cửa. Mặt hàng nhôm tồn kho cao, và với sự tham gia của nhiều nhà máy sản xuất mới được xây dựng, sẽ tạo thêm áp lực trong việc tiêu thụ và áp lực giảm giá trong trung hạn của thị trường nhôm, ít nhất đến năm 2015.

Thứ năm: Giá alumin trên thị trường thế giới hiện đang bấp bênh trong tương quan với chi phí sản xuất, tạo nên lợi nhuận không ổn định. Việc đầu tư vào nhà máy chế biến alumin chỉ trở nên hấp dẫn khi thị trường nhôm có nhu cầu và giá tăng lên trở lại.

[1] Từ năm 2005 đến 2010 NSNN TƯ bình quân mỗi năm hỗ trợ ngân sách tỉnh Đắc Nông là 1.478,4 tỉ đồng; trong khi số thu ngân sách trên địa bàn là 445,4 tỉ đồng, chỉ bằng 30,13% mức hỗ trợ của NSNN TƯ. Hệ thống buôn làng và văn hóa bản địa đang ngày mai một đi.

Ví dụ, ở huyện Đắc R’Lấp (Đắc Nông) những năm gần đây các lễ hội truyền thống của người M’ Nông chỉ được tổ chức khi có đầu tư tiền của Nhà nước mang tính chất phục dựng hoặc cổ động cho một sự kiện của địa phương hoặc của quốc gia. Thậm chí có kết quả nghiên cứu nói rằng “ngày nay rất khó nhận biết bon làng của người bản địa”, “không thể nhận biết người bản địa qua văn hóa vật thể (trang phục, đồ trang sức, v.v.)”, thậm chí kết luận rằng “Văn hóa M’ Nông đang đứng trước nguy cơ hoàn toàn biến mất”. Môi trường đang bị suy thoái nghiêm trọng, riêng diện tích rừng bị mất hàng năm rất lớn do các nguyên nhân khác nhau. (Riêng ở Đắc Nông hàng năm có khoảng 300 ha rừng bị phá làm rẫy và hàng ngàn ha rừng giao cho doanh nghiệp làm các dự án nông lâm nghiệp).

Kỳ tới: Luận bàn, nhận thức và đề xuất định hướng chiến lược phát triển công nghiệp bô xít tại Tây Nguyên

NangluongVietnam.vn

CÁC BÀI VIẾT BẠN ĐỌC QUAN TÂM

Nước mắt bao giờ cũng mặn...
Trung Quốc: Bạn hay thù của nước Mỹ?
Nước cờ khôn ngoan, bản lĩnh của Nhật ở châu Á
Vận mệnh quốc gia và lòng tự trọng...



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3