Năng lượng - Môi trường

Tiềm năng phát triển ngành công nghiệp các bon thấp ở Việt Nam (Kỳ 2)

05:00 |05/06/2012

 - 

Với hơn 3.200 km bờ biển và thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng năng lượng gió khá tốt. Tuy nhiên, cho đến nay nguồn dữ liệu cơ bản về năng lượng gió ở Việt Nam vẫn chưa được quan tâm, thu thập đầy đủ và chính xác. 

>> Tổng quan ngành công nghiệp cacbon thấp trên thế giới, tiềm năng tại Việt Nam (Kỳ 1)


Năng lượng gió

Năm 2001, Ngân hàng Thế giới (WB) khởi xướng đề án xây dựng bản đồ năng lượng gió cho bốn quốc gia Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam. Trong nghiên cứu này, Việt Nam là nước có tiềm năng năng lượng gió tốt nhất trong 4 nước. Hơn 39% lãnh thổ Việt Nam có tốc độ gió lớn hơn 6m/s tại độ cao 65m, tương đương với 513GW. Hơn 8% lãnh thổ, tương đương 112 GW được đánh giá là có tiềm năng năng lượng gió tốt.

Theo Đề án “Quy hoạch tiềm năng năng lượng gió để phát điện” của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tổng tiềm năng kỹ thuật năng lượng gió của Việt Nam vào khoảng 1.785 MW.

Bảng 2: Tiềm năng kỹ thuật NL gió của Việt Nam

TT

Khu vực

Tiềm năng kỹ thuật (MW)

1

Miền Bắc

50

2

Miền Trung

880

3

Miền Nam

855

Tổng

1785

Nguồn: Viện Năng lượng


Năng lượng sinh khối

Việt Nam có nhiều loại sinh khối có thể sử dụng một cách hiệu quả để làm năng lượng và sản xuất điện. Các loại sinh khối chính của Việt Nam gồm: (i) củi gỗ; (ii) phế thải từ cây nông nghiệp; (iii) chất thải chăn nuôi; (iv) rác thải đô thị; (v) các loại chất hữu cơ khác.

Nguồn sinh khối hiện vẫn chiếm tỷ lệ trên 50% tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp toàn quốc. Các lĩnh vực sử dụng NLSK hiện nay như sử dụng gia đình 76%, còn lại khoảng 34% là cho nhu cầu khác của công nghiệp/tiểu thủ CN.

Bảng 3: Tiềm năng sản xuất điện từ sinh khối sau 2010

Loại sinh khối

Điện năng sản xuất (GWh/năm)

Công suất phát (MW)

Ghi chú

Trấu

944-1079

197-225

Nối lưới

Bã mía

882-1103

221-276

Nối lưới

Đốt rác đô thị

Hà Nội

172

40

Nối lưới

Tp. Hồ Chí Minh

258

60

Nối lưới

Hải Phòng

86

20

Nối lưới

Khí bãi rác

Hà Nội

120

30

Nối lưới

Tp. Hồ Chí Minh

183

42

Nối lưới

Hải Phòng

40,5

9

Nối lưới

Đà Nẵng

43,5

10

Nối lưới

Cần Thơ

48

11

Nối lưới

Khí sinh học

Trại chăn nuôi

289

58

Nối lưới

Tổng cộng

3066-3422

698-781

Nối lưới

Nguồn: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng mới và tái tạo đến 2015, tầm nhìn 2025 ở Việt Nam

Thủy điện nhỏ của Việt Nam

Có 2 loại tiềm năng là tiềm năng lý thuyết và tiềm năng kỹ thuật. Tiềm năng lý thuyết là năng lượng tiềm tàng của dòng nước tính từ thượng nguồn đến cửa sông. Tiềm năng kinh tế kỹ thuật (tiềm năng khả thi) là năng lượng có thể khai thác được về kỹ thuật và có hiệu ích về kinh tế.

Theo đánh giá của Viện Năng lượng, tổng tiềm năng kỹ thuật của thủy điện nhỏ Việt Nam tương đương khoảng 1.600 - 2.000 MW công suất lắp đặt (tính với các trạm có công suất lắp đặt N < 10 MW/trạm), chiếm 7 - 10% tổng trữ năng nguồn thủy điện.

Theo quy mô công suất lắp đặt, loại thủy điện nhỏ có công suất lắp đặt từ 100 - 10.000 kW/trạm, gồm 500 trạm, với tổng công suất lắp đặt 1.400 - 1.800 MW (chiếm 87 - 90% tổng công suất nguồn thủy điện nhỏ).

Loại thủy điện nhỏ có công suất trạm từ 5 - 100 kW/trạm, có 2.500 địa điểm, có tổng công suất lắp đặt khoảng 100 - 150 MW (chiếm 5 - 7% trữ năng TDN). Loại thủy điện cực nhỏ có công suất < 5 kW/tổ máy có khoảng 1.000.000 địa điểm, với tổng công suất lắp đặt 50 - 100 MW (chiếm 2-5%).

Bảng 4: Tiềm năng kỹ thuật thủy điện nhỏ (TĐN) theo gam công suất

Dải công suất (MW)

Tổng công suất (MW)

0,1- <1

126,8

1-<5

1030,2

5-<10

1048,3

10-<15

648,0

15-<20

562,8

20-<25

309,0

25-<30

290,0

Tổng (≤30MW)

4.015,1

Nguồn: Dự thảo chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển NLM&TT ở Việt Nam đến 2015, tầm nhìn đến 2025

Theo kết quả phân ngưỡng công suất TĐN của Bộ Công Thương, tiềm năng kỹ thuật TĐN ở Việt Nam với các gam công suất từ 0,1MW - 30MW có khoảng trên 1.050 nhà máy.


Năng lượng mặt trời

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa giữa vĩ độ 80N và 240N, do đó có nguồn năng lượng mặt trời khá dồi dào và thuận tiện cho việc ứng dụng. Cường độ bức xạ bình quân năm là 1346,8 - 2153,5 kWh/m2/năm, số giờ nắng trung bình năm là 1.600 - 2.720 h/năm.

Tuy nhiên, lượng bức xạ mặt trời trên mặt đất tùy thuộc vào điều kiện của từng địa phương. Giữa các địa phương nước ta có chênh lệch đáng kể về bức xạ mặt trời. Cường độ bức xạ ở phía Nam thường cao hơn phía Bắc.

Bảng 5: Khái quát phân bố bức xạ mặt trời trên lãnh thổ Việt Nam

Vùng

Số giờ nắng trung bình

(giờ/năm)

Cường độ bức xạ mặt trời trung bình kWh/m2/ngày

Các tháng nhiều nắng

Vùng núi Tây Bắc

Dưới 1500

3,489

tháng 4 - tháng 11

Vùng Bắc bộ và Bắc trung bộ

1500 - 2000

0,300 - 4,652

tháng 5 - tháng 11

Vùng Trung bộ

2000 - 2500

4,652 - 5,234

tháng 11 đến tháng 5

Vùng phía Nam và Tây Nguyên

2000 - 2500

4,652 - 5,815

Cả năm

Nguồn: Dự án đánh giá tiềm năng công nghiệp cacbon thấp ở Việt Nam


Địa nhiệt ở Việt Nam

Những vùng có tiềm năng địa nhiệt lớn là Tây Bắc, Đông Bắc, đặc biệt là khu vực miền Trung như: Lệ Thủy (Quảng Bình), Mộ Đức, Nghĩa Thắng (Quảng Ngãi), Hội Vân (Bình Định), Tu-Bông, Đảnh Thạnh (Khánh Hòa)… Đây là những địa điểm tiềm năng cho các dự án điện địa nhiệt.

Theo kết quả nghiên cứu của Đề án “Đánh giá tài nguyên địa nhiệt làm cơ sở thiết kế và khai thác sử dụng thử nghiệm vào mục đích năng lượng ở một số vùng triển vọng” do Tổng cục Địa chất thực hiện năm 1983 đã tổng hợp được tài liệu của các nguồn nước nóng trong toàn quốc, đánh giá tiềm năng địa nhiệt và phân vùng triển vọng ứng dụng nguồn năng lượng này.

Theo số liệu thống kê đến năm 2000, ở Việt Nam đã phát hiện 269 nguồn nước nóng, trong đó có 140 nguồn nước ấm, 84 nguồn nước nóng vừa, 41 nguồn nước rất nóng và 4 nguồn nước quá nóng. Các nguồn địa nhiệt phân bố có mật độ khác nhau theo vùng địa lý nhiều nhất ở miền Trung Việt Nam.

Bảng 5: Tổng hợp tiềm năng địa nhiệt theo vùng

Vùng địa nhiệt

Tổng số nguồn

Nhiệt độ dưới sâu

(oC)

Số nguồn địa nhiệt có triển vọng khai thác theo quy mô khác nhau

Công nghiệp

Vừa

Nhỏ

Tây Bắc

79

103-200

10

25

44

Đông Bắc

11

95-146

2

6

3

ĐBSH

17

100-150

5

3

9

Bắc Trung bộ

42

120-210

4

10

28

Nam Trung bộ

67

110-200

14

18

35

Nam trung bộ và ĐBSCL

53

150

22

31

Tổng

269

35

84

150

Nguồn: Viện Năng lượng

Thủy triều

Các nghiên cứu về thủy triều ở Việt Nam cho thấy, tiềm năng năng lượng thủy triều của Việt Nam không lớn như các nước. Có một số địa điểm thuận lợi, song biên độ giao động sóng nhỏ (chỉ khoảng 1m), và chế độ thủy triều yếu. Trữ lượng thủy triều của Việt Nam ước 1,6 tỷ kWh/năm, tập trung chủ yếu ở bờ biển Quảng Ninh (khoảng 1,3 tỷ kWh/năm). Theo tính toán, từ đây đến 2025, năng lượng thủy triều chưa đưa được vào khai thác ở Việt Nam.

Bảng 6: Chế độ trung bình, chiều cao và chiều rộng của thủy triều

TT

Tên trạm

Tọa độ

Chế độ thủy triều

Độ rộng thủy triều ATB (cm)

Chiều cao thủy triều Hmax/Htb/Hmin

Vĩ độ

Kinh độ

1

Lô Chúc Sơn

21o15’

107o57’

Đều

252

480/235/-5

2

Cô Tô

20o58’

107o46’

Đều

235

467/208/-9

3

Thiên Môn

21o08’

107o37’

Đều

231

440/204/-4

4

Văn Hoa

21o12’

107o33’

Đều

262

500/232/-4

5

Cửa Ông

21o02’

107o22’

Đều

260

478/219/-4

6

Hòn Gai

20o57’

107o04’

Đều

258

402/206/-5

7

Cửa Yên Bình

20o46’

107o08’

Đều

212

440/204/-5

8

Cát Bà

20o43’

107o03’

Đều

231

440/201/-6

9

Long Châu

20o38’

107o07’

Đều

206

396/183/-3

10

Cửa Nam Triệu

20o46’

107o50’

Đều

210

430/183/-4

11

Hải Phòng

20o52’

107o40’

Đều

213

430/200/-5

12

Đồ Sơn

20o43’

106o47

Đều

210

404/191/-7

13

Hòn Dấu

20o40’

106o49’

Không

210

404/191/-7

14

Ba Lạt

20o19’

106o31’

không

200

364/192/-11

Nguồn: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng mới và tái tạo ở Việt Nam đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2025

Phát triển điện hạt nhân

Điện nguyên tử đang được đánh giá là nguồn phát thải ít cacbon nhất. Việt Nam đang xúc tiến xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Ninh Thuận 1, công suất 2.000 MW, trong tổ hợp 4.000 MW, gồm 2 nhà máy tại Ninh Thuận. Đây được coi là bước đi đầu tiên của Việt Nam, một trong hàng loạt nhà máy điện nguyên tử sẽ ra đời từ đây đến 2030.

Theo định hướng phát triển các nhà máy điện hạt nhân, đến năm 2020, tổ máy điện hạt nhân đầu tiên với công suất khoảng 1.000 MW sẽ đi vào vận hành. Đến năm 2025, tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân khoảng 8.000 MW và sẽ tăng lên 15.000 MW vào năm 2030 (chiếm khoảng 10% tổng công suất nguồn điện). Đã quy hoạch 8 địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại 5 tỉnh: Ninh Thuận, Bình Định, Phú Yên, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, mỗi địa điểm có khả năng xây dựng từ 4 - 6 tổ máy điện hạt nhân.

Bảng 7: Danh mục và tiến độ các tổ máy điện hạt nhân đến 2030

STT

Nhà máy

Công suất (MW)

Năm vận hành

1

Điện hạt nhân Phước Dinh tổ máy 1

1.000

2020

2

Điện hạt nhân Phước Dinh tổ máy 2

1.000

2021

3

Điện hạt nhân Vĩnh Hải tổ máy 1

1.000

2021

4

Điện hạt nhân Vĩnh Hải tổ máy 2

1.000

2022

5

Điện hạt nhân Phước Dinh 3

1.000

2023

6

Điện hạt nhân Phước Dinh 4

1.000

2024

7

Điện hạt nhân Vĩnh Hải tổ máy 3

1.000

2024

8

Điện hạt nhân Vĩnh Hải tổ máy 4

1.000

2025

9

Điện hạt nhân khu vực miền Trung 1 và 2

2 x 1.000

2026

10

Điện hạt nhân khu vực miền Trung 3

1.300 - 1.500

2027

11

Điện hạt nhân khu vực miền Trung 4

1.300 - 1.500

2028

12

Điện hạt nhân khu vực miền Trung 5

1.300 - 1.500

2029

13

Điện hạt nhân khu vực miền Trung 6

1.300 - 1.500

2030

Tổng công suất

15.000 - 16.000


Tiềm năng ứng dụng công nghệ thu giữ cacbon (CCS)

Công nghệ thu giữ cacbon (CCS) là quá trình thu hồi cacbon dioxide từ nguồn thải lớn của công nghiệp thải ra môi trường, sau đó vận chuyển và lưu giữ tại các bể chứa nằm sâu trong lòng đất. Các ngành công nghiệp thải nhiều cacbon như điện than, điện, khí và một số ngành công nghiệp khác là đối tượng của công nghệ thu giữ cacbon.

Công nghệ thu cacbon trên thế giới hiện tiếp cận theo 3 hướng: (i) Thu giữ sau đốt, (ii) Thu giữ trước khi đốt và (iii) Đốt bằng nhiên liệu chứa oxy. Các công nghệ hiện tại có thể thu giữ tới 85-90% lượng phát thải cacbon từ các nhà máy điện.

Việt Nam đang có tiềm năng rất lớn trong triển khai và ứng dụng công nghệ thu giữ cacbon, do cơ cấu công nghiệp sử dụng than đang tăng nhanh. Hiện tại, Bộ Công Thương đang thực hiện dự án đánh giá tiềm năng này cùng ADB và một số trương trình dự án khác.

Kết luận

Điểm mấu chốt trong các chương trình phát triển công nghiệp cacbon thấp đó là đưa ra các chính sách phù hợp. Chính sách là định hướng, đồng nghĩa với việc mở ra các cơ hội thị trường nhằm kích thích phát triển. Phát triển công nghiệp cacbon thấp là hướng phát triển bền vững và hạn chế phát triển công nghiệp phát thải nhiều cacbon, tác nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường.

Các nước thường sử dụng công cụ thuế hay tài chính cacbon nhằm đánh thuế vào các ngành sản xuất truyền thống, phát thải nhiều cacsbon, tạo ra khoản ngân sách để bù đắp cho các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp cacbon thấp. Đó là bài toán cân đối khó khăn ảnh hưởng đến các nhóm lợi ích nên không dễ có được sự thỏa hiệp. Do vậy, để đánh giá tính khả thi của các chính sách cần có các nghiên cứu sâu hơn về lợi ích chi phí của các chính sách phát triển cacbon thấp hiện nay, làm cơ sở cho việc ra đời các chính sách.

Mỗi nước cũng có những ưu tiên riêng trong chính sách phát triển công nghiệp cacbon thấp. Trung Quốc đặt ưu tiên vào giảm cường độ năng lượng, sử dụng tiết kiệm hiệu quả năng lượng, trong khi một số nước khác hướng ưu tiên vào việc thay đổi cách thức sử dụng đất và giảm suy kiệt tài nguyên rừng. Sử dụng năng lượng mới và năng lượng tái tạo là mục tiêu trọng tâm của nhiều quốc gia.

Trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam, với nguồn lực đầu tư còn hạn chế, việc xem xét lựa chọn ưu tiên trong bước đi đầu tiên hướng đến nền kinh tế cacbon thấp là rất quan trọng. Việt Nam có thể học hỏi rất nhiều từ kinh nghiệm các nước trong việc xác lập các mục tiêu ưu tiên phù hợp. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp cacbon thấp trên thế giới cho thấy cần thiết phải có sự chuẩn bị các điều kiện hạ tầng khoa học công nghệ và nguồn nhân lực.

Phần lớn các nước đi cùng chính sách phát triển đã dành các khoản đầu tư rất lớn cho khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực. Tiềm năng phát triển ngành công nghiệp các bon thấp của Việt Nam là tương đối khả quan và dồi dào với lợi thế đường biển dài, nhiều gió, nhiều giờ mặt trời chiếu sáng và ngành năng lượng sinh khối đầy hứa hẹn...

Tuy nhiên, việc phát triển năng lượng hạt nhân hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau do sự rủi ro của nó và tác động khó lường nếu để thảm họa xảy ra nên Việt Nam cần phải tính toán thận trọng.

Năng lượng mặt trời hiện nay còn khá đắt, nhưng tiềm năng là rất lớn với các ứng dụng như pin mặt trời, bình nước nóng... Phát triển công nghệ sinh khối biến những rác thải công nghiệp, nông nghiệp và đô thị trở thành nguồn năng lượng bổ sung là một hướng đi cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Cụ thể, ngành chăn nuôi với chương trình biogas đã làm rất tốt nhiệm vụ này. Năng lượng địa nhiệt mới được sử dụng chủ yếu làm nguồn nước nóng phục vụ du lịch và gia đình, nhưng chưa được sử dụng ở quy mô công nghiệp. Dù có bờ biển dài, nhưng năng lượng thủy triều ở Việt Nam vẫn chưa được tận dụng.

Một số nghiên cứu cần phải làm sâu hơn, là tiền đề phát triển ngành công nghiệp các bon thấp tại Việt Nam:

1. Cần thiết phải có chương trình nghiên cứu tổng thể về phát triển công nghiệp cacbon thấp, làm cơ sở để xác lập kế hoạch hành động và điều chỉnh chính sách.

2. Xác lập các mục tiêu ưu tiên phù hợp và khả thi trong điều kiện Việt Nam, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư có hạn.

3. Cần phải có nhiều sáng kiến chính sách, các chính sách đột phá để tháo gỡ khó khăn và tạo dựng thị trường cho phát triển, đặc biệt thị trường CDM.

4. Chú trọng phát triển hạ tầng hỗ trợ phát triển, trong đó đặc biệt là phát triển khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực, chú trọng nhấn mạnh đến công nghệ tiêu thụ ít năng lượng, công nghệ sạch và chuyển giao công nghệ tiên tiến.

5. Kết nối các chính sách nhằm tạo ra khuôn khổ các chính sách phát triển công nghiệp cacbon thấp, và cần cụ thể hơn bằng luật.

Ths. Lê Thành Văn (Viện Tư vấn Phát triển)
Ths. Nguyễn Thị Thu Trang (Viện Chiến lược chính sách công nghiệp)



Tài liệu tham khảo

1. Viện năng lượng (2005); Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng mới và tái tạo ở Việt Nam đến 2015, tầm nhìn đến 2025.

2. Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp (2011); Điều tra đánh giá tiềm năng phát triển công nghiệp cacbon thấp ở Việt Nam.

3. Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiêp (2010); Điều tra đánh giá tiềm năng sản xuất nhiên liệu sinh học từ nguồn sinh khối.

4. Tập đoàn Điện lực Việt nam (2010); Quy hoạch Tổng sơ đồ điện VII






TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn

Liên hệ Thư ký Tòa soạn: Mai Văn Thắng (Hotline: 0969998822)

Liên hệ Giám đốc Trung tâm Đối ngoại: Lê Mỹ (Hotline: 0949723223)

Liên hệ Trung tâm Quảng cáo: Nguyễn Tiến Sỹ (Hotline: 0969998811) - Phan Thanh Dũng (Hotline: 0942632014)

Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin - Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3