Thời sự

Chuyên gia quân sự Nga bình luận vũ khí Trung Quốc

09:14 |06/01/2013

NangluongVietnam - Dư luận vẫn có định kiến rằng, Trung Quốc không tự sản xuất được các loại vũ khí mà hầu hết đi sao chép của nước ngoài. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đất nước tỷ dân này đã có những bước tiến đáng kể, mà ngay cả các cường quốc như Nga và Mỹ cũng không thể coi thường. Dưới đây là bài viết của chuyên gia Aleksandr Anatolievich Khramchikhin, Phó Giám đốc Viện Phân tích chính trị và quân sự (Nga) được đăng trên tạp chí Bình luận Quân sự Độc lập.

1. Năng lực nghiên cứu, thiết kế và sản xuất

Hiện nay Trung Quốc là một trong 3 nước trên thế giới có nền công nghiệp quốc phòng đủ năng lực sản xuất hầu hết các loại vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự để trang bị cho Lực lượng vũ trang của mình và xuất khẩu. Công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc hình thành và phát triển nhờ sự giúp đỡ rất đáng kể của Liên Xô vào những năm 40 và 50 của thế kỷ trước và đã có những bước tiến rất mạnh mẽ.

Trung Quốc được đánh giá có khả năng sản xuất hầu hết các loại vũ khí

Trung Quốc được đánh giá có khả năng sản xuất hầu hết các loại vũ khí

Tuy nhiên, vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ trước các tổ hợp công nghiệp quốc phòng chịu tác động rất lớn vì vào thời gian này giới lãnh đạo Trung Quốc tập trung các  ưu tiên cho phát triển kinh tế. Tình hình trên chỉ thay đổi vào cuối những năm 90. Năm 1998 Chính phủ Trung Quốc thành lập Ủy ban quốc gia về khoa học quốc phòng, kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng (trước thời điểm đó đã có một Ủy ban ngang bộ có tên gọi tương tự hoạt động dưới sự chỉ đạo song song của cả Hội đồng quân sự trung ương (Quân ủy trung ương ) và Chính phủ (đến năm 2008 Ủy ban này được đổi tên thành Cục quốc gia về khoa học quốc phòng, kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng trực thuộc Bộ công nghiệp và thông tin).

Trong cơ cấu của cơ quan Bộ quốc phòng thành lập thêm Tổng cục vũ khí. Các tổ hợp công nghiệp quốc phòng cũng có những thay đổi rất quan trọng. Hệ thống cũ điều hành theo quy chế cơ quan chủ quản chuyên ngành (tức là một nhà máy sản xuất được chỉ định sản xuất một loại sản phẩm nhất định) và các viện nghiên cứu khoa học hoạt động độc lập với các nhà máy sản xuất bị bãi bỏ và Trung Quốc đã thành lập 11 tập đoàn công nghiệp quân sự.

Trong số đó có các tập đoàn chuyên về các lĩnh vực:  nguyên tử, xây dựng nguyên tử, điện tử, 2 tập đoàn tên lửa vũ trụ (sản xuất và công nghệ), 2 tập đoàn sản xuất máy bay, 2 tập đoàn đóng tầu và phương tiện kỹ thuật lục quân, sản xuất các sản phẩm quân sự và dân dụng.

Với sự đầu tư có kế hoạch, năng lực công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc phát triển đáng nể thời gian qua

Với sự đầu tư có kế hoạch, năng lực công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc phát triển đáng nể thời gian qua

Ngoài ra, Trung Quốc còn có Công ty “Sinshidai” chuyên làm nhiệm vụ nhập khẩu và xuất khẩu công nghệ. Mỗi tập đoàn lại có một số các tập đoàn con chuyên ngành hẹp   (ví dụ như trong Tập đoàn hàng không số 1 có tập đoàn chuyên sản xuất động cơ máy bay “Power System” thành lập năm 2003 và 5 tập đoàn chế tạo máy bay với hàng chục (thậm chí hàng trăm xí nghiệp), các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm và các cơ quan, xí nghiệp hỗ trợ khác.

Trong các tập đoàn trên, công tác nghiên cứu khoa học được gắn liền với sản xuất, đã xuất hiện các yếu tố cạnh tranh và điều đó đã  nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều đặc biệt là có đến 65 đến 90% số lượng sản phẩm của mỗi tập đoàn là sản phẩm dân dụng.

Ngoài ra còn có nhiều xí nghiệp công nghiệp quốc phòng độc lập không nằm  trong thành phần của bất cứ tập đoàn nào và vì thế mà hiện nay người ta không thể biết chính xác quy mô thực sự của công nghiệp quốc phòng Trung Quốc và con số nhân lực làm việc trong lĩnh vực này.

Các nhà phân tích quân sự trên thế giới chỉ đưa ra con số ước đoán là Trung Quốc có khoảng 300 xí nghiệp lắp ráp sản phẩm cuối cùng, vài nghìn các xí nghiệp công nghiệp quốc phòng và khoảng vài triệu người làm việc trong lĩnh vực này.

Việc sản xuất phần lớn các sản phẩm dân dụng công nghệ cao kể cả dành cho xuất khẩu làm cho các tập đoàn trong thời bình luôn làm ăn có lãi. Trong giai đoạn bị đe dọa và trong thời chiến, các tập đoàn này sẽ chuyển ngay sang sản xuất các sản phẩm quân sự và có thể tăng công suất xuất xưởng sản phẩm quân sự lên hàng chục lần chỉ trong một vài tháng. Việc gắn sản xuất sản phẩm dân dụng và quân sự trong nội bộ một tập đoàn làm tăng chất lượng cả hai loại sản phẩm nói trên  nhờ việc ứng dụng công nghệ lưỡng dụng và áp dụng cơ chế trao đổi công nghệ.

Trung Quốc có rất nhiều xí nghiệp công nghiệp quốc phòng và bố trí phân tán trên khắp lãnh thổ. Điều đó làm tăng một cách đáng kể khả năng giữ ổn định sản xuất trong trường hợp xảy ra chiến tranh.

Có thể nói rằng số lượng các xí nghiệp quốc phòng  của Trung Quốc tương đương với số lượng các tên lửa đạn đạo và  tên lửa có cánh của Mỹ hoặc Nga. Trong những năm cải cách, phần lớn các xí nghiệp thuộc “tuyến phòng thủ thứ ba” nằm sâu trong nội địa đã chuyển hướng sản xuất hoặc bị giải thể nhưng thời gian gần đây nhiều nhà máy cũ cách xa vùng duyên hải đã được tái thành lập. Điều này được giải thích bởi hai lý do, đó là chính sách phát triển miền Tây của Trung Quốc và chính sách đưa một bộ phận của “nền kinh tế mới” này rời xa khu vực duyên hải có nhiều rủi ro bị các tên lửa có cánh từ trên không và trên biển của Mỹ tấn công.

2. Hướng tới các đỉnh cao công nghệ mới

Công nghiệp quốc phòng Trung Quốc hiện có trình độ công nghệ tương đối cao. Không những thế, họ tiếp tục thực hiện chính sách sao chép và tổng hợp công nghệ của nước ngoài và đại đa số các trường là bất hợp pháp. Hầu hết các mẫu của nước ngoài đều bị nghiên cứu và sao chép, và trong tuyệt đại đa số các trường hợp - lại  cũng là bất hợp pháp.

Tuy vậy, quá trình sao chép này bao giờ cũng đi liền với cải tiến một vài tham số của các mẫu nước ngoài. Hơn nữa, ngày càng có nhiều hơn các trường hợp, khi thiết kế các mẫu vũ khí thì các kỹ sư Trung quốc đã tích hợp công nghệ Nga, công nghệ phương Tây và cả công nghệ của riêng Trung Quốc. Cũng cần phải thấy rằng để có thể tổng hợp được các sản phẩm của các công nghệ rất khác nhau như vậy thì Trung quốc đã có một trường phái công nghệ riêng rất mạnh. Điều này lại càng đúng khi tổng hợp các mẫu công nghệ cao phức tạp.

Trung Quốc tiếp thu hầu như tất cả các học thuyết trang bị kỹ thuật tác chiến trên thế giới với rất nhiều trường phái khác nhau. Ví dụ, một mặt Trung Quốc là nước duy nhất ngoài Mỹ nghiên cứu chế tạo cùng lúc 2 mẫu máy bay tiêm kích thế hệ 5, mặt khác Trung Quốc cũng chế tạo các mẫu xe ô tô bọc thép được tăng cường khả  năng chống mìn để sử dụng trong các cuộc chiến tranh du kích.

Xe tăng Type-96 của Trung Quốc

Xe tăng Type-96 của Trung Quốc

Có lẽ trong lĩnh vực phát triển công nghiệp quốc phòng, Trung Quốc gần như lặp lại hoàn toàn các bước đi của công nghiệp quốc phòng Xô Viết. Trong đầu những năm 20 của thế kỷ trước, công nghệ của công nghiệp quốc phòng và khoa học quân sự Xô Viết hầu như bằng không và trong một thời gian dài Liên Xô phụ thuộc hoàn toàn vào các mẫu vũ khí và công nghệ nước ngoài.

Thế nhưng đến những năm 60, 70 của thế kỷ XX công nghiệp quốc phòng và khoa học quân sự Liên Xô đã đạt tới một trình độ rất cao tương đương với Mỹ và vượt hẳn tất cả các nước còn lại. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, tổ chức, khoa học- công nghệ và cán bộ trong 20 năm trở lại đây nhưng trình độ như vậy vẫn được duy trì.

Không còn nghi ngờ gì nữa, công nghiệp quốc phòng Trung Quốc hoàn toàn có thể lặp lại lịch sử đó, không những thế còn có thể thành công hơn vì kết hợp được các ưu điểm của phương pháp hành chính - chỉ huy với các lợi thế của kinh tế thị trường và cùng đó là tiếp thu sáng tạo nhiều công nghệ của nước ngoài.

Máy bay tiêm kích J-15 vừa được Trung Quốc thử nghiệm thành công cho tàu sân bay Liêu Ninh

Máy bay tiêm kích J-15 vừa được Trung Quốc thử nghiệm thành công cho tàu sân bay Liêu Ninh

Mặc dù vậy, công nghiệp quốc phòng Trung Quốc cũng phải đối mặt với một loạt  vấn đề. Trước hết là trong lĩnh vực sản xuất động cơ, vũ khí công nghệ cao, các hệ thống khác nhau trong tiến hành chiến tranh mạng. Tuy nhiên, cũng không thể coi đó là các nhược điểm mang tính nguyên tắc ảnh hưởng tới khả năng tác chiến của Quân đội Trung Quốc. Tuy các động cơ của Trung Quốc có tuổi thọ không cao nhưng có thể bù lại bằng tăng số lượng xuất xưởng. Vũ khí chính xác cao có thể thay bằng các loại vũ khí thông thường.

3. Lợi ích của sự tiện dụng và giá rẻ

Hiện nay các chuyên gia quân sự ngày càng hiểu rõ là việc quá quan tâm đến việc sử dụng loại vũ khí chính xác cao đắt tiền, đặc biệt là của các nước phương Tây là cực kỳ không kinh tế và thường là không những không nâng cao được khả năng tác chiến mà còn làm giảm khả năng tác chiến của quân đội các nước này (các loại vũ khí chính xác cao được sản xuất với số lượng ít và nhanh chóng cạn kiệt và như vậy không thể tác chiến được nữa. Còn để sản xuất các vũ khí thay thế  thì rất lâu và rất đắt).

Nếu nhìn với quan điểm như vậy thì sự lạc hâu của Trung Quốc về các loại vũ khí này nhiều khi không phải là nhược điểm mà chính là lợi thế, đặc biệt trong các cuộc chiến tranh truyền thống quy mô lớn (quân đội đối đầu quân đội).

Khả năng sản xuất vũ khí với số lượng lớn và đa dạng giúp Trung Quốc chiếm ưu thế trong một cuộc chiến tranh truyền thống

Khả năng sản xuất vũ khí với số lượng lớn và đa dạng giúp Trung Quốc chiếm ưu thế trong một cuộc chiến tranh truyền thống

Công nghiệp quốc phòng Trung Quốc được định hướng sản xuất vũ khí - trang bị kỹ thuật chính là cho một cuộc chiến tranh truyền thống. Nếu đứng ở góc độ này thì phải thừa nhận nó thuộc vào loại tốt nhất trên thế giới. Năng suất xuất xưởng phương tiện kỹ thuật tác chiến còn vượt cả Mỹ (trừ sản xuất máy bay không người lái và tàu sân bay), vượt đáng kể so với Nga và tất nhiên là hơn hẳn tất cả các nước có sản xuất vũ khí - trang bị kỹ thuật khác. Chất lượng thấp của một số loại vũ khí (số lượng các loại vũ khí chất lượng thấp đang ngày càng ít đi) có thể hoàn toàn được bù lại bằng số lượng, các xí nghiệp quốc phòng của Trung Quốc đủ nhiều để tự đảm bảo sản xuất và cung cấp trang thiết bị quân sự, vũ khí và vật tư tiêu hao liên tục trong trường hợp có chiến tranh ở bất kỳ quy mô nào. Không có một dòng sản phẩm quân sự nào của Trung Quốc bị phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ và các sản phẩm đồng bộ từ nước ngoài.

Có một điều đáng ngạc nhiên là cho đến nay chưa một nước nào trên thế giới, thậm chí cả các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc và coi nước này là mối đe dọa lớn nhất, nhận thức được thực tế này. Họ vẫn cho rằng, các tổ hợp công nghiệp quốc phòng Trung Quốc chỉ có công nghệ lạc hậu và chỉ có khă năng sao chép một cách vụng về các mẫu của nước ngoài.

Ngoài ra còn một quan điểm rất sai lầm, không có căn cứ nhưng lại rất phổ biến nữa về công nghiệp quốc phòng Trung Quốc là: Nền công nghiệp này chỉ sản xuất các mẫu vũ khí phương tiện kỹ thuật hiện đại với một số lượng rất hạn chế. Ngay cả Viện SIPRI Stockholm trong các bản báo cáo hàng năm được công bố cũng chỉ đánh giá là  kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc chỉ có khoảng từ 200 đến 250 đầu đạn.

Trong khi đó, theo đánh giá khiêm tốn nhất thì Quân đội Trung Quốc có khoảng 850 đầu đạn hạt nhân. Một đánh giá khác cho rằng, Trung Quốc có khoảng 3.000 đầu đạn, thậm chí còn cho rằng Trung Quốc có tới 20.000 đầu đạn hạt nhân.

Không thể biết chính xác Trung Quốc hiện sở hữu bao nhiêu đầu đạn hạt nhân

Không thể biết chính xác Trung Quốc hiện sở hữu bao nhiêu đầu đạn hạt nhân

Liên quan đến vũ khí thông thường, như trên đã nói, Trung Quốc có công suất sản xuất tất cả các lớp vũ khí thông thường đứng đầu thế giới. Không những thế, ở một số loại vũ khí thông thường (như xe tăng) nước này có công suất sản xuất hơn tất cả các nước khác trên thế giới cộng lại .

Hiện nay Trung Quốc đang sản xuất đồng thời 4 kiểu máy bay: máy bay ném bom chiến trường JH-7, máy bay tiêm kích J-16 (sao chép không phép Su-30), J-11B (sao chép không phép Su-27) và J-10. Tổng cộng xuất xưởng không ít hơn 100 chiếc tiêm kích và ném bom một năm (nhiều hơn tất cả các nước NATO, kể cả Mỹ).

Trong một số lĩnh vực của ngành đóng tàu, Trung Quốc còn vượt cả Mỹ, đóng đồng thời 6 khu trục dự án 052C/D (Mỹ chỉ đóng khoảng 2 chiếc) và đưa vào trang bị một chiếc tàu tuần tiễu dự án 056 mỗi tháng. Nguyên tắc thay thế vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự của Trung Quốc là “một đổi một”, có nghĩa là tăng mạnh chất lượng trong khi vẫn duy trì số lượng. Khả năng sản xuất của các tổ hợp công nghiệp quốc phòng có thể tăng số lượng xuất xưởng các loại vũ khí trang bị lên gấp 3-10 lần chỉ trong vòng vài tháng.

4. Không đánh giá đúng là rất nguy hiểm

Ngay cả tại Nga hiện nay cũng có rất nhiều người không đánh giá hết khả năng quân sự của Trung Quốc và vẫn tin rằng nước này sản xuất không nhiều vũ khí và phần lớn là sao chép không mấy thành công các sản phẩm quân sự của Nga. Các chuyên gia Nga cũng thường xuyên trích dẫn các số liệu từ các nguồn của Mỹ vốn chỉ tập trung chú ý vào sự phát triển hải quân Trung Quốc (nguyên nhân rất dễ hiểu) và hoàn toàn không để ý đến sự phát triển của Lục quân dù nhiều năm nay số lượng xe thiết giáp và các hệ thống pháo binh của nước này đã vượt tất cả 28 nước NATO cộng lại.

Trong năm qua có một sự kiện rất đáng quan tâm, nhưng ít ai để ý đến, đó là vào tháng 5/2012 trong một trận chiến giữa Sudan và Nam Sudan tại thành phố Herling, các xe tăng “Type 96” do Trung Quốc sản xuất đã có những chiến tích đầu tiên kể từ khi loại này được xuất xưởng và tin này được các phương tiện truyền thông của Trung Quốc hồ hởi loan báo. Sự kiện này còn làm người Trung Quốc hân hoan gấp bội vì chính các xe tăng “Type 96” đã đánh bại đối thủ cạnh tranh chủ yếu (trên thị trường buôn bán vũ khí) là T-72 mà Nam Sudan mua của Ucraina.

Đánh giá sai Trung Quốc là điều nguy hiểm!

Đánh giá sai Trung Quốc là điều nguy hiểm!

Sự hân hoan này là hoàn toàn dễ hiểu vì “Type 96” và loại tăng hiện đại hơn là  “Type 99” (Quân đội Trung Quốc đã được trang bị khoảng 3.500 đến 4.000 chiếc cả 2 loại này và mỗi năm Trung Quốc sản xuất khoảng vài trăm chiếc) được sử dụng để đối đầu không phải với “Abrams”, “Leopard”, “Leclerk” hoặc “Merkava”. Sự kiện trên một lần nữa khẳng định là người Nga nên từ bỏ ảo tưởng là sản phẩm quân sự của Nga chất lượng hơn của Trung Quốc. Chất lượng tuyệt đại đa số các loại vũ khí Trung Quốc đã đuổi kịp Nga, trong một số chi tiết nào đó còn vượt cả Nga và các xe tăng mới của Trung Quốc hoàn toàn  không thua kém các xe tăng của Nga.

Kết cục cuộc chiến bây giờ được quyết định không phải là sự vượt trội về chất lượng nào đó mà là tình huống chiến thuật, kỹ năng và tinh thần tác chiến của kíp lái cũng như số lượng vũ khí và phương tiện kỹ thuật. Ít nhất về mặt số lượng thì Trung Quốc bây giờ đã vượt hẳn Nga, kể cả về xe tăng, pháo và không quân.

Như vậy, đến bây giờ thậm chí cả Mỹ, Nga đã rất khó để duy trì được cân bằng quân sự với Trung Quốc theo cách hiểu về cân bằng truyền thống và sẽ ngày càng khó hơn. Còn đối với bất kỳ một nước nào khác (thậm chí cả Ấn Độ và Nhật Bản) thì nhiệm vụ trên đã là bất khả thi.

Chỉ trong vòng 10 năm, công nghiệp quốc phòng Trung  Quốc đã có bước nhảy vọt chưa có tiền lệ và đến thời điểm này thì đã không thể hóa giải được nữa.  Phương án duy nhất để có thể gây khó khăn cho việc tăng ưu thế quân sự của Trung Quốc đối với các nước láng giềng hiện nay chỉ có thể có được trong hai trường hợp, một là có một chấn động nội bộ nào đó rất lớn của Trung Quốc và hai là phải tìm ra được những phương thức chiến tranh phi đối xứng nào đó (ví dụ sử dụng các loại vũ khí trên những nguyên tắc vật lý mới).

Nhưng cũng phải thấy một điều rằng, bản thân nước này cũng có thể chế tạo được những loại vũ khí như vậy, thậm chí còn nhanh hơn các nước láng giềng vì giới lãnh đạo Trung Quốc luôn không tiếc tiền để nghiên cứu sản xuất các loại vũ khí mới.

Theo Hùng Lê (ĐVO)