Khoa học - Công nghệ

Đến năm 2030 KHCN điện Việt Nam đạt trình độ tiên tiến thế giới

14:18 |17/10/2017

 - 

Đến năm 2020, khoa học công nghệ (KHCN) điện đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030 hầu hết các lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới, đáp ứng các yêu cầu của một nước công nghiệp... Đó là mục tiêu tổng quát tại Nghị quyết về phát triển khoa học công nghệ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Đảng ủy Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ban hành.

Đầu tư cho công nghệ và bài học của PC Thái Nguyên
PC Vĩnh Phúc đi đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin

Đột phá từ khoa học công nghệ

Theo Nghị quyết của EVN, trong những năm qua, hoạt động KHCN ngành điện có chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu phát triển, tiếp nhận, chuyển giao, ứng dụng, khai thác công nghệ...

Các kết quả nghiên cứu khoa học đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học trong xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, góp phần hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc triển khai công nghệ được áp dụng có hiệu quả vào quá trình sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng của EVN, góp phần phát triển hệ thống điện Việt Nam không ngừng lớn mạnh, tăng trưởng với tốc độ cao.

Nhiều công trình điện trọng điểm được đầu tư với công nghệ tiên tiến, góp phần đưa trình độ KHCN nước ta dần đạt mức tiên tiến trong khu vực…

Việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất kinh doanh đã nâng cao trình độ công nghệ hiện đại, định hướng cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, làm chủ công nghệ mới tiên tiến của nước ngoài trong phát triển nguồn điện, lưới điện, hệ thống điều khiển - điều độ - thông tin - viễn thông điện lực…

Cụ thể, công suất tổ máy tua bin khí tăng đến 330 MW/tổ máy; công suất tổ máy nhiệt điện đến 300-330 MW, các trung tâm nhiệt điện than mới với công suất tổ máy tăng lên 600-660 MW; áp dụng công nghệ đập bê tông đầm lăn là công nghệ tiên tiến có nhiều ưu điểm nổi bật và mới được tiếp cận tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, phát triển hệ thống truyền tải, với nhiều đường dây và trạm biến áp đến cấp điện áp 500 kV, trạm biến áp với công nghệ cách điện bằng khí...; đưa vào vận hành hệ thống thu thập dữ liệu và điều khiển giám sát tại Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia và 3 Trung tâm Điều độ miền Bắc, Trung, Nam...

Đồng thời, năng lực nội sinh KHCN được nâng cao, từng bước tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng của EVN. Hoạt động quản lý KHCN từng bước được đổi mới, như: Chế tạo máy biến áp (MBA) cấp điện áp 500 kV đầu tiên công suất 3 x 150 MVA đã được đưa vào vận hành trong năm 2011; EVN đã đầu tư xây dựng và mua sắm nhiều thiết bị cho các phòng thí nghiệm trọng điểm cao áp, phòng thí nghiệm thuỷ lực; phòng thí nghiệm sét Gia Sàng; phòng thí nghiệm chất đốt và khí sinh học...

Đưa khoa học công nghệ điện đạt trình độ thế giới

Tuy nhiên, theo EVN, nhìn tổng thể hoạt động KHCN vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Mô hình tổ chức hiện tại của EVN chưa có đơn vị với chức năng chuyên sâu về nghiên cứu, phát triển, ứng dụng KHCN; Năng lực nghiên cứu KHCN trong Tập đoàn còn hạn chế; Năng lực KHCN của đội ngũ cán bộ kỹ thuật hiện chưa tương xứng với sự gia tăng trình độ công nghệ của các thiết bị hiện đại được tiếp nhận, vận hành trong hệ thống.

Bên cạnh đó, mức độ chuyển giao công nghệ trong các dự án đầu tư xây dựng công trình, mua sắm trang thiết bị còn hạn chế. EVN đóng vai trò là người vận hành công trình, sử dụng sản phẩm nên mối quan tâm chủ yếu trong tiếp nhận thông tin công nghệ chỉ dừng ở phạm vi hướng dẫn sử dụng, khai thác, vận hành mà chưa có các hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Từ đó, Nghị quyết của Đảng ủy EVN đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2020, KHCN điện đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030 hầu hết các lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới; KHCN điện của Tập đoàn đáp ứng các yêu cầu của một nước công nghiệp.

Huy động có hiệu quả các nguồn lực về KHCN để tăng năng suất lao động trong toàn Tập đoàn ở mức hơn 2 lần mức tăng bình quân của cả nước. Hình thành đội ngũ cán bộ KHCN điện có trình độ cao, tâm huyết, tận tụy. Phát triển các tổ chức KHCN, các chuyên gia khoa học điện đầu ngành.

Cụ thể, giai đoạn đến năm 2020, cung cấp đầy đủ luận cứ khoa học, thực tiễn phục vụ việc xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện cơ chế, chính sách, giải pháp thúc đẩy tái cơ cấu Tập đoàn theo hướng hiệu quả và bền vững.

EVN sẽ huy động có hiệu quả các nguồn lực về khoa học, công nghệ để đảm bảo nâng tỷ lệ đổi mới công nghệ, thiết bị, tăng trung bình 20%/năm; tỷ lệ đóng góp của KHCN trong tốc độ tăng trưởng chung của Tập đoàn đạt ít nhất 80%; Tập đoàn và các đơn vị hoàn thành việc xây dựng, thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ theo hướng sử dụng công nghệ sạch, hiệu quả.

Tầm nhìn đến năm 2030, triển khai đồng bộ các cơ chế chính sách, giải pháp quản lý, biện pháp kỹ thuật nhằm thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ trong tất cả các đơn vị; gia tăng đáng kể đóng góp của khoa học công nghệ trong tăng trưởng của Tập đoàn; tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tái cơ cấu Tập đoàn theo hướng bền vững.

4 giải pháp trọng tâm

Để hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu trên, EVN tập trung thực hiện 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, đổi mới tư duy, nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, Lãnh đạo cơ quan, đơn vị, các tổ chức đoàn thể; phát huy sáng kiến, sáng tạo trong phát triển, ứng dụng KHCN.

Thứ hai, tập trung nguồn lực phát triển, ứng dụng công nghệ nguồn và lưới điện hiện đại, hiệu năng cao, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, bảo vệ môi trường; ứng dụng rộng rãi công nghệ tiện ích cao trong kinh doanh và dịch vụ khách hàng.

Cụ thể, ứng dụng công nghệ đốt than sạch tiên tiến như lò siêu tới hạn, trên siêu tới hạn. Sử dụng các tổ máy có công suất lớn tăng hiệu suất phát điện, với tổ máy than phun công suất tối thiểu 600 MW nâng dần lên 1000 MW.

Đến hết 2017, hoàn thành lắp đặt 100% công tơ điện tử có đo xa cho tất cả công tơ ranh giới, đầu nguồn phục vụ giao nhận điện giữa các đơn vị trực thuộc Tổng công ty điện lực, công tơ tổng trạm biến áp công cộng, công tơ bán điện khách hàng trạm biến áp chuyên dùng. Đến 2020, hoàn thành triển khai lắp đặt công tơ điện tử cho khách hàng sau TBA công cộng...

Nghiên cứu phát triển các hệ thống giám sát diện rộng, bảo vệ diện rộng, các hệ thống tự động ngăn chặn, cô lập sự cố. Áp dụng trạm không người trực, điều khiển xa trạm biến áp. Đến hết năm 2020: 100% trạm 110kV, 60% trạm 220 kV là trạm không người trực; phấn đấu 50% trạm biến áp 500 kV là trạm bán người trực.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý, hoạt động, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ KHCN.

Thành lập trung tâm đào tạo bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học của EVN; kiện toàn Trung tâm Viễn thông và Công nghệ thông tin thành Công ty Viễn thông và Công nghệ thông tin và hình thành các Trung tâm trong Công ty. Trong đó có trung tâm ứng dụng KHCN; tổ chức lại các đơn vị sản xuất sản phẩm, thiết bị điện; xem xét nghiên cứu tổ chức bộ phận quản lý KHCN, hoặc hệ thống mạng lưới cán bộ quản lý KHCN tại các đơn vị.

Thứ tư, xây dựng lộ trình thích hợp và xác định thứ tự ưu tiên. Trong năm 2017, 2018, tập trung ưu tiên hoàn thiện về tổ chức, quản lý; quản trị, điều hành; sản xuất vận hành, đầu tư xây dựng; kinh doanh dịch vụ khách hàng.

Các năm 2019, 2020, hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin cho thị trường bán buôn điện cạnh tranh và nghiên cứu xây dựng hạ tầng cho thị trường bán lẻ điện cạnh tranh; nghiên cứu nâng cấp, thay thế, loại bỏ các thiết bị có công nghệ lạc hậu, không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường; hoàn thành hệ thống quản lý, điều hành, cung cấp dịch vụ theo cấp độ 4 của dịch vụ công theo quyết định 31 của Thủ tướng Chính phủ.

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM



®   Khi đăng lại tin, bài, hay trích dẫn số liệu phải ghi rõ nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM và dẫn link tới bài gốc trên NangluongVietnam.vn

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3