Hội thảo khoa học trực tuyến

Ý kiến phát biểu của các chuyên gia, nhà khoa học…

12:00 |28/03/2014

 - 

Ý kiến phát biểu của các chuyên gia, các nhà khoa học...

PGS,TS. NGUYỄN MINH DUỆ
Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Năng lượng Việt Nam - VEA

(1) Quan điểm phát triển

- Phát triển năng lượng phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo đi trước một bước với tốc độ cao, bền vững và đồng bộ.

- Phát triển năng lượng quốc gia cần phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước kết hợp với khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngoài hợp lý, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển kinh tế độc lập tự chủ.

- Từng bước hình thành thị trường năng lượng, đa dạng hoá sở hữu và phương thức kinh doanh, hướng tới thoả mãn tốt nhất lợi ích người tiêu dùng.

- Phát triển đồng bộ và hợp lý hệ thống điện, dầu khí, than, năng lượng mới và tái tạo, coi trọng sử dụng năng lương tiết kiệm và hợp lý, giảm tỷ lệ tổn thất.

- Phát triển năng lượng gắn chặt với giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển năng lượng bền vững.

(2) Mục tiêu phát triển, trong chiến lược nêu lên mục tiêu cụ thể:

Phấn đấu đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, trong đó năng lượng sơ cấp cụ thể như sau:

Năm 2010: 47,5- 49,5 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), Năm 2020: 100-120 triệu TOE, Năm 2025: 110-120 triệu TOE, Năm 2050: 310-320 triệu TOE.

(3) Định hướng phát triển, Quyết định đã nêu rõ định hướng phát triển của từng chuyên ngành: điện, than, dầu khí, năng lượng tái tạo.

(4) Các chính sách, Quyết định nêu lên 5 chính sách là: bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; giá năng lượng; đầu tư các nguồn năng lượng mới và tái tạo, năng lượng sinh học điện hạt nhân; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và bảo vệ môi trường.

(5) Các giải pháp thực hiện, Quyết định đã đưa ra 4 giải pháp thực hiện là: đầu tư phát triển, cơ chế tài chính, phát triển nguồn nhân lực và cơ chế tổ chức.

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia là một trong những căn cứ quan trọng nhằm hình thành quan điểm phát triển thị trường năng lượng.

Quan điểm về phát triển thị trường năng lượng

Căn cứ vào nội dung chiến lược PTNLQG mà Chính phủ đã đề ra và thực trạng phát triển của ngành năng lượng Việt Nam cũng như xu thế phát triển năng lượng các nước trên thế giới, quan điểm của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam về phát triển thị trường năng lượng như sau:

- Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương của Đảng và Chính phủ. Tính đến nay, trong đa số các ngành trong nền kinh tế Việt Nam đã và đang chuyển đổi sang kinh tế thị trường, riêng ngành năng lượng bao gồm các sản phẩm: dầu khí, than và điện thuộc sự quản lý của ba tập đoàn kinh tế Nhà nước: Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Than - Khoáng sản và Tập đoàn Điện lực Việt Nam vẫn ở thế độc quyền, hầu như chưa có thị trường cạnh tranh.

- Phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh là xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới, là động lực cho hoạt động hiệu quả trong sản xuất kinh doanh các sản phẩm năng lượng và phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, ngành năng lượng Việt Nam, đặc biệt là các tập đoàn năng lượng Nhà nước, không có con đường nào khác, phải tìm mọi giải pháp hữu hiệu đẩy nhanh phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh trong thời gian tới.

- Phát triển thị trường năng lượng đối với nước ta là rất mới mẻ và phức tạp, nên đòi hỏi phải nghiên cứu cả về lý luận và thực tế cũng như kinh nghiệm của các nước trên thế giới. Bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế cạnh tranh, nói như vậy không có nghĩa là trong nền kinh tế thị trường chỉ có duy nhất là thị trường cạnh tranh, mà còn có thị trường độc quyền, thị trường vừa độc quyền vừa cạnh tranh. Nên cạnh tranh và độc quyền là hai nội dung cơ bản tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Đối với ngành năng lượng cần thiết nghiên cứu xây dựng các mô hình thị trường, chính sách giá cả và cơ chế quản lý của nhà nước phù hợp với từng loại sản phẩm năng lượng ở các giai đoạn khác nhau.

Thực trạng phát triển thị trường năng lượng

Thị trường điện

Chính phủ Việt Nam nhận thức được sự cần thiết hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh, xem là chiến lược phát triển dài hạn của ngành điện Việt Nam, đã thể hiện trong Luật Điện lực năm 2005 và được cụ thể hóa trong Quyết định 63/2013/QĐ-TTg ngày 8 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về lộ trình và các điều kiện hình thành phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam. (thay thế Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26/01/2006 đã hết hiệu lực).

Theo quyết định trên, thị trường điện Việt Nam sẽ hình thành và phát triển theo 3 cấp độ:

- Thị trường phát điện cạnh tranh (cấp độ 1): Tiếp tục thực hiện đến hết năm 2014;

- Thị trường bán buôn điện cạnh tranh (cấp độ 2):

+ Giai đoạn 2015-2016: Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm;

+ Giai đoạn 2017-2021: Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh;

- Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (cấp độ 3):

+ Giai đoạn 2021-2023: Thực hiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh thí điểm;

+ Từ sau năm 2023: Thực hiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh;

Thị trường phát điện cạnh tranh: Là cấp độ đầu tiên của thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam. Trong giai đoạn này, chỉ có cạnh tranh trong khâu phát điện, chưa có cạnh tranh trong khâu bán buôn và bán lẻ điện. Khách hàng sử dụng điện chưa có cơ hội lựa chọn đơn vị bán điện cho mình. Các đơn vị phát điện sẽ cạnh tranh bán điện cho một đơn vị mua buôn duy nhất (Công ty mua bán điện trực thuộc EVN ) trên thị trường giao ngay và qua hợp đồng mua bán điện dài hạn. Cục Điều tiết Điện lực quy định hàng năm tỷ lệ sản lượng điện năng mua bán qua hợp đồng và điện năng giao dịch trên thị trường giao ngay.

Thị trường bán buôn điện cạnh tranh: Hình thành các đơn vị bán buôn mới để tăng cường cạnh tranh trong khâu mua bán điện. Khách hàng lớn và các công ty phân phối được quyền mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát điện thông qua thị trường hoặc từ các đơn vị bán buôn. Các đơn vị bán buôn điện cạnh tranh mua điện từ các đơn vị phát điện và cạnh tranh bán điện cho các đơn vị phân phối và khách hàng lớn. Chưa có cạnh tranh trong khâu bán lẻ điện, khách hàng sử dụng nhỏ chưa có quyền lựa chọn đơn vị cung cấp điện.

Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh: Sự cạnh tranh diễn ra ở cả 3 khâu: phát điện, bán buôn và bán lẻ điện. Khách hàng trên cả nước được lựa chọn đơn vị bán điện cho mình (đơn vị bán lẻ điện) hoặc mua điện trực tiếp từ thị trường. Các đơn vị bán lẻ điện cũng cạnh tranh mua điện từ các đơn vị bán buôn, các đơn vị phát điện hoặc từ thị trường để bán lẻ cho khách hàng sử dụng điện.

Sau một thời gian dài Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực và các tổ chức liên quan đã nghiên cứu, xây dựng hệ thống các văn bản pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin cũng như đào tạo, tập huấn cho các đơn vị tham gia thị trường, đến ngày 01 tháng 7 năm 2011 thị trường phát điện cạnh tranh đã bắt đầu vận hành thí điểm và vận hành chính thức ngày 01 tháng 7 năm 2012. Năm 2013 đã ghi nhận sự thành công bước đầu của thị trường phát điện cạnh tranh. Sau một năm vận hành chính thức đã có 37 nhà máy, với tổng công suất 9.500MW tham gia trực tiếp chào giá trên thị trường điện, chiếm 40% tổng công suất đặt của hệ thống điện, cũng có 55 nhà máy không trực tiếp chào giá trên thị trường điện với tổng công suất 16.042 MW chiếm 62,7% tổng công suất hệ thống. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cần được rút kinh nghiệm nhằm hoàn thiện cho các bước tiếp theo.

Theo lộ trình, sau khi kết thúc cấp độ 1 thị trường phát điện cạnh tranh vào năm 2014, mới chuyển sang cấp độ 2 thị trường bán buôn cạnh tranh (2015- 2022) và sau năm 2023 sẽ thực hiện thị trường bán lẻ cạnh tranh.

Nhận xét về thực hiện lộ trình phát triển thị trường điện

1. Về sự hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh là cần thiết, đúng theo quan điểm của Chính phủ và Luật Điện lực. Thực hiện thành công lộ trình phát triển thị trường điện, đưa vào hoạt động thị trường điện cạnh tranh sẽ tạo ra những thay đổi tích cực trong hoạt động điện lực ở Việt Nam, nâng cao được tính minh bạch và hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh điện, hạ giá thành tạo cơ sở giảm giá bán điện. Phát triển thị trường điện cạnh tranh là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường, mang lại lợi ích chung cho người cung cấp và người tiêu thụ điện.

2. Về lộ trình, phải trải qua 3 cấp độ từ năm 2005 đến 2023 là quá dài, cøng nh¾c, các cấp độ thực hiện không có sự đan xen lẫn nhau, phải xong cấp độ này mới chuyển sang cấp độ khác. Như vậy phải sau gần 20 năm thực hiện, đến năm 2023 Việt Nam mới có được thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh. Thực chất đây được xem là một dự án đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong ngành điện nhằm chuyển đổi từ cơ chế hoạt động độc quyền lạc hậu kém hiệu quả sang cơ chế thị trường cạnh tranh hiện đại. Đành rằng, hình thành và phát triển thị trường điện cạnh tranh ở nước ta là phức tạp và mới mẻ, tuy nhiên nếu không có giải pháp khẩn trương, quyết liệt thì những hậu quả xấu của cơ chế độc quyền vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển, sẽ gây nên những tổn thất khôn lường cho ngành điện và nền kinh tế. Kiến nghị với Chính phủ tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam như lời Thủ tướng Chính phủ đã nói: “Thị trường điện cạnh tranh phải rút nhanh hơn lộ trình đã công bố”.

3. Việc quản lý hoạt động thị trường điện của Nhà nước mà chủ yếu là Bộ Công Thương hãy còn hạn chế về việc xây dựng mô hình, tổ chức, cơ chế hoạt động và giao dịch giữa các đối tượng mua bán điện trên thị trường. Sau gần 10 năm nghiên cứu và thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh vẫn chưa có mô hình đúng theo nguyên tắc thị trường cạnh tranh: hiệu quả, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng tham gia thị trường điện lực. Hiện tại, EVN là đơn vị chiếm phần chi phối lớn nhất trong khâu phát điện; Công ty mua bán điện, đơn vị vận hành hệ thống điện và điều hành giao dịch thị trường đều thuộc EVN. Trong điều 19 của Luật Điện lực quy định phải có: đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực, chịu trách nhiệm điều hoà, phối hợp hoạt động giao dịch mua bán điện và dịch vụ phụ trợ trên thị trường điện lực. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có đơn vị này, còn giao cho EVN điều hành.

Thị trường dầu khí

Về dầu khí, bao gồm các sản phẩm: dầu thô, khí đốt và xăng dầu các loại. Trong phạm vi báo cáo này, chỉ giới thiệu thị trường xăng dầu vì hiện nay được quan tâm nhất đối với người cung cấp cũng như tiêu thụ ở Việt Nam.

Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động phân phối xăng dầu cũng đã trải qua các giai đoạn tương ứng, từ phương thức cung cấp theo định lượng, áp dụng một mức giá thống nhất do Nhà nước quy định đến mua bán theo nhu cầu, thông qua hợp đồng kinh tế.

Hiện nay, đối với xăng dầu đang vận hành theo mô hình truyền thống. Tổng công ty xăng dầu (Petrolimex) hiện đang chiếm hơn 50% thị phần, cộng với PV Oil, Saigon Petro, ba đơn vị này chiếm trên 80% thị phần trong cả nước, làm nhiệm vụ nhập khẩu, phân phối, bán lẻ.

Nhận xét về thực trạng đối với thị trường xăng dầu

Những mặt đã đạt được

Một là, đã tạo được một hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước tham gia hoạt động nhập khẩu, phá vỡ thế độc quyền nhập khẩu thuộc về một số đơn vị trước đây, tạo ra thế đứng mới cho các doanh nghiệp lần đầu tiên tham gia nhập khẩu và khẳng định ưu thế vượt trội của các đơn vị được đầu tư theo cách nhìn mới trong cơ chế thị trường.

Hai là, việc kìm giá trong một khoảng thời gian dài kể cả khi giá xăng dầu thế giới có biến động bất thường có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định tình hình chính trị - kinh tế xã hội trong nước.

Ba là, từng bước thiết lập một thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, qua đó hình thành chi phí xã hội cần thiết cho hoạt động kinh doanh xăng dầu và mức lợi nhuận hợp lý.

Những mặt còn hạn chế

Một là, việc điều hành giá bán các mặt hàng xăng vẫn do Nhà nước quy định; hệ luỵ của quy định đăng ký, giá bán trong nước thường không bắt kịp giá thị trường; gây bất ổn thị trường do đầu cơ trước thông tin tăng giá; tạo ra tâm lý trông chờ, ỷ lại của người tiêu dùng và thường có phản ứng khi có sự tăng giá.

Hai là, cơ chế bù giá duy trì quá lâu làm mất đi tính chủ động của doanh nghiệp, giảm động lực tiết giảm chi phí tăng, doanh nghiệp không có tích luỹ cho đầu tư phát triển, mất cơ hội đầu tư, giảm sức cạnh tranh; người tiêu dùng không có ý thức tiết kiệm.

Ba là, công tác quy hoạch phát triển hệ thống kinh doanh xăng dầu không rõ ràng về thẩm quyền và trách nhiệm, thiếu sự kiểm soát dẫn đến đầu tư không đồng đều, manh mún gây lãng phí xã hội; việc bình ổn thị trường ở những vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn...

Quan điểm về phát triển thị trường xăng dầu thời gian tới

Qua phân tích thực trạng thị trường xăng dầu, những mặt đạt được và những hạn chế, có thể đưa ra một số quan điểm về phát triển thị trường xăng dầu trong những năm tới như sau:

1. Chuyển kinh doanh xăng dầu sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hướng tới 3 mục tiêu: i) Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phát triển kinh tế đất nước; bình ổn thị trường xăng dầu trong mọi tình huống; ii) Giá bán xăng dầu thực sự được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; iii) Hài hoà ba lợi ích Nhà nước, người tiêu dùng và doanh nghiệp.

2. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư, tham gia thị trường từ khâu thượng đến hạ nguồn theo đúng quy hoạch nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, không ngừng nâng cao chất lượng, dịch vụ, văn minh thương mại.

3. Tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp tham gia thị trường. Ban hành Nghị định kinh doanh xăng dầu mới nhằm tạo hành lang pháp lý để khuyến khích thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư hệ thống phân phối theo đúng quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

4. Cơ chế điều hành giá bán xăng dầu, từ những bài học kinh nghiện rút ra, xuất phát từ yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và xuất phát từ tính chất nhạy cảm của mặt hàng, việc định giá bán tại thị trường trong nước cần có sự thay đổi căn bản. Cơ chế quản lý giá bán xăng dầu cần hướng tới nguyên tắc điều hành giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Thị trường than

Về quy mô thị trường: Sản lượng than tiêu thụ trong nước đã có sự tăng lên đáng kể từ mức 10 triệu tấn năm 2002 lên khoảng 28 triệu tấn năm 2013, trong đó chủ yếu là than sản xuất trong nước 27,5 triệu tấn (chiếm 98,2%), còn than nhập khẩu chỉ khoảng 0,5 triệu tấn (chiếm 1,8 %). Nguyên nhân chính là do trong thời gian qua so với nhu cầu thì nguồn cung than trong nước khá dồi dào và có giá cạnh tranh hơn than nhập khẩu. Tuy nhiên, mối tương quan này đang ngày càng mất dần.

Về các doanh nghiệp tham gia thị trường: cho đến nay, TKV là nhà cung cấp than chủ yếu trên thị trường than trong nước (chiếm tới 98%) và là nhà xuất khẩu than duy nhất. Vừa qua, thực hiện chủ trương tái cơ cấu DNNN và tập đoàn, tổng công ty nhà nước, trong đó TKV có Tổng công ty Đông Bắc - một công ty con của TKV được tách ra khỏi TKV và trở thành tổng công ty độc lập do Bộ Quốc phòng quản lý.

Về cơ chế giá than:

Theo quy định của Pháp lệnh giá (2002) thì than là mặt hàng không thuộc diện bình ổn giá cũng như không thuộc diện Nhà nước định giá. Việc định giá than do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh than thực hiện theo cơ chế thị trường.

Nhận xét về phát triển thị trường than

- Vấn đề tạo lập thị trường than mãi đến năm 2008 mới chính thức được đề cập trong Chiến lược phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, định hướng đến năm 2025được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 89/2008/QĐ-TTg ngày 07/7/2008.

- Mục tiêu phát triển thị trường than đề ra là chuyển nhanh hoạt động ngành than theo cơ chế thị trường, hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế, có sự điều tiết của Nhà nước. Tuy nhiên, việc xây dựng và thực hiện thị trường than còn chậm chạp, thiếu đồng bộ theo đúng thông lệ thị trường.

- Sản lượng than tiêu thụ trong nước tăng lên đáng kể, nguồn cung cấp chủ yếu là trong nước, nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất ít. Tuy nhiên, quan hệ này sẽ đang ngày càng mất dần khi nguồn than trong nước sẽ giảm đi. Việc quản lý nhà nước về thị trường than trong nước và nhập khẩu chưa rõ ràng, đặc biệt là cơ chế quản lý giá bán than cho các hộ tiêu thụ trong nước và giá xuất nhập khẩu.

- Việc thực hiện tái cơ cấu DNNN đối với ngành than quá chậm chạp. Đến nay TKV vẫn là nhà cung cấp than chủ yếu trong nước và xuất khẩu duy nhất, ngoài Tổng công ty Đông Bắc vừa tách khỏi TKV, chưa có một DN tư nhân hoặc CP nào tham gia thị trường than.

Quan điểm về phát triển thị trường than trong thời gian tới

- Nhu cầu than tăng rất cao

Theo dự báo trong Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến 2020, có xét triển vọng đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 60/2012/QĐ-TTg thì nhu cầu than trong nước thời gian tới sẽ tăng rất cao, cụ thể là (theo P/a cơ sở): Năm 2015 là 56,2 triệu tấn, năm 2020 là 112,3 triệu tấn, năm 2025 là 145,5 triêu tấn, năm 2030 là 220,3 triệu tấn.

Như vậy, so với mức tiêu thụ năm 2013 đến năm 2015 (chỉ sau 2 năm) nhu cầu than trong nước sẽ tăng gấp 2 lần, đến năm 2020 tăng gấp 4 lần và đến năm 2030 tăng gấp 8 lần.

- Nguồn cung ứng than trong nước gặp nhiều khó khăn

Với lý do: i) Tài nguyên than đã được thăm dò có khả năng huy động vào khai thác bị suy giảm và mức độ tin cậy thấp. ii) Khả năng nâng cao sản lượng khai thác bị hạn chế và giảm so với Quy hoạch đã được duyệt. iii) Nhu cầu vốn đầu tư và giá thành khai thác tăng cao

- Nguồn than nhập khẩu còn nhiều ẩn số

Để đáp ứng nhu cầu than, QH60 đã đề ra chủ trương nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài khai thác than đưa về nước.

Tuy nhiên, việc nhập khẩu than dài hạn với khối lượng hàng chục triệu đến hơn trăm triệu tấn/năm là vô cùng khó khăn do nguồn cung than ngày càng hạn chế trong khi nhu cầu than của các nước ngày càng tăng với sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường. Muốn có nguồn than ổn định phải đầu tư mua mỏ ở nước ngoài để khai thác, đây là dạng đầu tư mạo hiểm và nhiều rủi ro. Vì vậy, hiện nay, tất cả những vấn đề này đều còn là ẩn số.

Với 3 lý do trên, đề xuất các quan điểm về giải pháp sau:

1. Tạo lập thị trường than cạnh tranh, công khai, minh bạch

Đẩy nhanh việc hoàn thiện và xây dựng đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường theo hướng tạo dựng một thị trường than hoàn chỉnh có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thể chế quản lý, vận hành minh bạch, công khai và tính cạnh tranh theo đúng thông lệ thị trường. Đặc biệt, để đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cần tăng cường năng lực và chất lượng quản lý nhà nước về thị trường cũng như về công tác quy hoạch, cấp phép, quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động khai thác, kinh doanh than, nhất là về các mặt đảm bảo khai thác hợp lý, giảm tổn thất tài nguyên, đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các trách nhiệm xã hội theo quy định của pháp luật.

2. Phát triển thị trường cung ứng than trong nước

- Đẩy mạnh công tác thăm dò nâng cấp tài nguyên với mức độ tin cậy cao để đảm bảo đủ trữ lượng than đưa vào khai thác. Trong đó Chính phủ chỉ đạo khẩn trương cấp phép cho TKV và các đơn vị khác ngoài TKV triển khai thực hiện công tác thăm dò theo đúng tiến độ, đặc biệt là cấp phép thăm dò tiến tới lập dự án khai thác các khu mỏ mới.

- Phát huy tối đa lợi thế khai thác lộ thiên (công suất lớn, năng suất và hệ số thu hồi than cao, an toàn, đã có thiết bị và kinh nghiệm về công nghệ khai thác dưới sâu) trên cơ sở nâng cao hệ số bóc một cách tối đa.

- Đối với khai thác than hầm lò, áp dụng đồng bộ các biện pháp nghiên cứu tìm kiếm công nghệ khai thác thích hợp đi đôi với áp dụng cơ giới hoá đến mức cao nhất

-Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đổi mới cơ chế quản lý theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trên cơ sở triệt để tiết giảm chi phí, nâng cao NSLĐ, chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng.

3. Thực hiện chiến lược nhập khẩu than và đầu tư khai thác ra nước ngoài

- Chính phủ chỉ đạo Bộ Công Thương khẩn trương xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài khai thác than đưa về phục vụ trong nước; đồng thời có các giải pháp về cơ chế chính sách thích đáng tạo điều kiện cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng như các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác đầu tư ra nước ngoài khai thác mỏ, nhất là chính sách bảo lãnh và hỗ trợ mua quyền khai thác mỏ.

- Nhà nước hỗ trợ về đường lối, chính sách, quan hệ ngoại giao tạo sức mạnh tổng thể khi đàm phán với các đối tác trong việc đầu tư vào các mỏ tại nước sở tại và mua than để nhập khẩu về Việt Nam nhằm đảm bảo nguồn cung được ổn định và lâu dài.

- Trên cơ sở Chiến lược nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài khai thác than được duyệt đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống cảng, bến bãi và năng lực vận chuyển phục vụ nhập khẩu than.

Giải pháp phát triển thị trường năng lượng

1. Tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế thuộc ngành năng lượng

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước được xác định là một trong 3 trụ cột chính của tái cấu trúc nền kinh tế nhằm tạo sự đổi mới toàn diện từ mô hình tổ chức, phương thức quản lý, chiến lược đầu tư kinh doanh, đẩy nhanh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đối với ngành năng lượng, gồm 3 tập đoàn kinh tế lớn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than- Khoáng sản và Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Tái cơ cấu các tập đoàn này có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển thị trường năng lượng ở Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt các đề án tái cơ cấu đối với 3 tập đoàn kinh tế thuộc ngành năng lượng giai đoạn 2012-2015.

Đối với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam: Mục tiêu của đề án là xây dựng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thành tập đoàn kinh tế mạnh, năng động, có năng lực cạnh tranh ở trong nước và quốc tế, đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển bằng việc sử dụng tối ưu mọi nguồn lực sẵn có; phát triển nhanh và đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí đến chế biến dầu khí, sản xuất phân bón, điện, dịch vụ dầu khí chất lượng cao.

Đối với Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam: Mục tiêu của đề án là xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam thành Tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, có cơ cấu hợp lý; tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh than, khoáng sản, điện, vật liệu nổ công nghiệp. Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Mục tiêu của đề án nhằm đảm bảo cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam có cơ cấu hợp lý, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh điện; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích cho xã hội và quốc phòng, an ninh; nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm hiệu quả SX-KD; hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, cung ứng điện cho nền kinh tế và nhu cầu xã hội.

Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, để đạt được mục tiêu của đề án tái cơ cấu, các tập đoàn cần thực hiện một cách quyết liệt, đổi mới toàn diện mô hình tổ chức, phương thức quản lý SX-KD, chiến lược đầu tư… góp phần phát triển thị trường năng lượng.

2. Cổ phần hoá DNNN, tăng thành phần doanh nghiệp tư nhân tham gia thị trường năng lượng

Cổ phần hoá được định nghĩa là chuyển đổi DNNN thành các công ty cổ phần. Năm 1993, Việt Nam bắt đầu thực hiện thí điểm CPH, hơn 20 năm qua công việc này được nhìn nhận là khó khăn và “nhạy cảm”, đặc biệt đối với các DNNN thuộc ngành năng lượng. Chính vì vậy, số doanh nghiệp trong các tập đoàn: dầu khí, than- khoáng sản và điện lực còn rất hạn chế, làm ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển thị trường năng lượng và hiệu quả SX-KD. Trở ngại lớn nhất việc CPH các DNNN thuộc ngành năng lượng là quan niệm của một số các nhà lãnh đạo, quản lý hiện nay vẫn cho rằng ngành năng lượng là cơ sở hạ tầng có vai trò hết sức quan trọng phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, DNNN phải nắm vai trò chủ đạo, phải giữ độc quyền hoặc nếu CPH thì nhà nước phải giữ trên 51% vốn điều lệ. Đành rằng, bên cạnh những trở ngại nói trên, vấn đề CPH các DNNN về năng lượng cũng sẽ không đơn giản, vì tài sản các DN này rất lớn, trong lúc vốn của các tư nhân ở nước ta còn rất hạn chế và vấn đề đánh giá đúng giá trị tài sản doanh nghiệp CPH không đơn giản, dễ thất thoát vốn của nhà nước.

Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng: việc CPH các DNNN nói chung và các DN thuộc ngành năng lượng là tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Các DNNN về năng lượng cần xây dựng lộ trình CPH và giải pháp mang tinh đột phá để đạt được mục tiêu đề ra của Chính phủ trong 2 năm 2014 - 2015.

3. Xây dựng chính sách giá năng lượng theo cơ chế thị trường cạnh tranh

Kinh tế thị trường được hiểu là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán giao dịch trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để trao đổi mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ dưới tác động bởi quy luật cung cầu và giá cả. Ở nước ta hiện nay, đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Theo lộ trình của phát triển thị trường năng lượng, nhà nước có những chính sách giá thích hợp cho từng giai đoạn đối với từng loại sản phẩm năng lượng. Một chính sách đúng đắn, một cơ chế định giá và quản lý giá phù hợp, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển thị trường năng lượng thành công.

Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, kiến nghị định hướng xây dựng chính sách giá năng lượng như sau:

Một là, chính sách giá năng lượng phải được xây dựng phù hợp với chính sách phát triển KT-XH và chính sách năng lượng quốc gia.

Hai là, định giá năng lượng phải kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu: hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và khả thi về tài chính.

Ba là, chính sách giá năng lượng được xem là một trong những công cụ quản lý nhu cầu, bảo tồn năng lượng và bảo vệ môi trường.

Bốn là, chính sách giá năng lượng phải được xây dựng trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa thị trường trong nước và thế giới.

Năm là, đề cao vai trò Nhà nước trong việc xác lập và kiểm soát thực hiện chính sach giá năng lượng, đặc biệt đối với dạng năng lượng mang tính độc quyền.

PGS,TS. NGUYỄN CẢNH NAM
Hội đồng Khoa học Năng lượng Việt Nam - VEA

Quá trình hình thành

Cơ sở pháp lý đầu tiên để tạo lập thị trường than là Pháp lệnh giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X, ban hành ngày 26/4/2002 và Nghị định số 170/2003/NĐ-CP, ngày 25/12/2003 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giá, trong đó quy định sản phẩm than không thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ thực hiện bình ổn giá và Danh mục tài sản, hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định giá. Điều này đồng nghĩa với việc giá than vận hành theo cơ chế thị trường.

Tuy nhiên, trong Quyết định số 20/2003/QĐ-TTg, ngày 29/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2003-2010 có xét triển vọng đến năm 2020” mới chỉ đề cập đên thị trường than. Cụ thể là: “Phát triển ngành than ổn định, đáp ứng nhu cầu về than cho nền kinh tế quốc dân; bảo đảm thị trường tiêu dùng than trong nước ổn định, có một phần hợp lý xuất khẩu để điều hòa về số lượng, chủng loại và tạo nguồn ngoại tệ”. Còn về giá than thì đến năm 2006 mới “tiến tới thực hiện giá bán than theo cơ chế thị trường”. Đến năm 2008 vấn đề tạo lập thị trường than mới chính thức được đề cập trong “Chiến lược phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, định hướng đến năm 2025” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 89/2008/QĐ-TTg ngày 07/7/2008, trong đó đã nêu rõ: “Phát triển ngành than trên cơ sở khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên than trong nước; đóng góp tích cực vào việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng tối đa nhu cầu than phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm việc xuất, nhập khẩu hợp lý theo hướng giảm dần xuất khẩu, thông qua biện pháp quản lý bằng kế hoạch và các biện pháp điều tiết khác phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và các cam kết quốc tế của Việt Nam” và “Sớm hình thành thị trường than cạnh tranh, hội nhập với khu vực và thế giới, đa dạng hoá phương thức đầu tư và kinh doanh trong ngành than”.

Theo đó, mục tiêu phát triển về thị trường than là chuyển mạnh hoạt động ngành than theo cơ chế thị trường hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế có sự điều tiết của Nhà nước. Đồng thời, Chiến lược đề ra định hướng phát triển về giá than là giá than cần được xác định phù hợp với cơ chế thị trường để hội nhập với thị trường khu vực và thế giới; Nhà nước điều tiết giá than thông qua chính sách thuế và các công cụ quản lý khác.

Để đạt mục tiêu nêu trên, một số giải pháp đã được đề ra như: Ban hành mới, sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho quản lý, khai thác, chế biến, kinh doanh than và phát triển ngành than theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá các công ty sản xuất than, tiến tới hình thành thị trường than theo hướng đa dạng hóa sở hữu và phương thức sản xuất, kinh doanh than.

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chịu trách nhiệm chính về việc phát triển ngành than, cung cấp than trong nước và làm đầu mối phối hợp với các hộ tiêu thụ than lớn thực hiện việc nhập khẩu than cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Trong Quyết định số 60/2012/QĐ-TTg, ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030”, có đề cập đến nội dung xây dựng, phát triển thị trường than gồm:

Thứ nhất, quan điểm phát triển: Phát triển ngành than trên cơ sở khai thác, chế biến, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên than của đất nước, nhằm phục vụ nhu cầu trong nước là chủ yếu; đóng góp tích cực, hiệu quả vào việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng tối đa nhu cầu than phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm việc xuất, nhập khẩu hợp lý theo hướng giảm dần xuất khẩu và chỉ xuất khẩu các chủng loại than trong nước chưa có nhu cầu sử dụng thông qua biện pháp quản lý bằng kế hoạch và các biện pháp điều tiết khác phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh trong ngành than trên cơ sở doanh nghiệp do Nhà nước chi phối đóng vai trò chủ đạo; thực hiện kinh doanh than theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước để phục vụ mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Thứ hai, mục tiêu phát triển thị trường than là chuyển nhanh hoạt động ngành than theo cơ chế thị trường, hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế, có sự điều tiết của Nhà nước.

Thứ ba, định hướng phát triển thị trường: Xuất, nhập khẩu than đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu thụ than trong nước về chủng loại và khối lượng; xuất khẩu một phần hợp lý theo kế hoạch, chỉ xuất khẩu các chủng loại than trong nước chưa hoặc không có nhu cầu sử dụng; tích cực, chủ động tìm nguồn than nhập khẩu để góp phần bảo đảm an ninh năng lượng lâu dài cho đất nước; Quy hoạch cảng nhập than tùy thuộc tiến độ đầu tư các trung tâm nhiệt điện theo quy hoạch, triển khai đầu tư xây dựng mới một số cảng nhập than (hoặc cầu cảng chuyên dụng tại các cảng tổng hợp) tại miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long phục vụ cung cấp than cho các trung tâm nhiệt điện than ở khu vực miền Trung và miền Nam. Đồng thời, cũng đề ra quy hoạch đầu tư cải tạo, mở rộng và xây dựng mới hệ thống cảng xuất than phục vụ cho việc tiêu thụ than trong nước.

Thứ tư, cơ chế, chính sách về thị trường: ngành than tiếp tục thực hiện lộ trình điều chỉnh giá bán than cho các hộ sử dụng trong nước theo cơ chế thị trường nhằm khuyến khích sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên than, giúp ngành than ổn định sản xuất, cân đối tài chính, tạo vốn đầu tư để phát triển ngành theo Quy hoạch.

Thứ năm, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam: Chịu trách nhiệm chính trong việc triển khai thực hiện Quy hoạch; thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong phát triển bền vững ngành than. Chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch đầu tư, kế hoạch thăm dò, khai thác than phù hợp với Quy hoạch và nhu cầu sử dụng của nền kinh tế trong từng giai đoạn; chịu trách nhiệm chính về cung cấp than khai thác trong nước và làm đầu mối, phối hợp với các doanh nghiệp ngoài Tập đoàn nhập khẩu than để đáp ứng nhu cầu trong nước. Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan xây dựng phương án, biện pháp quản lý chặt chẽ việc khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than, ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển, tiêu thụ, xuất khẩu than trái phép.

Như vậy có thể thấy, vấn đề tạo lập thị trường than và ngành than hoạt động theo cơ chế thị trường đã được đặt ra từ lâu. Tuy nhiên, việc xây dựng và thực hiện thị trường than chủ yếu mới chỉ được đề ra trong Chiến lược và Quy hoạch phát triển ngành than trong từng giai đoạn. Trong quá trình thực hiện chưa có sự xuyên suốt, nhất quán, đồng bộ trong thể chế, nhất là cơ chế giá than cũng như lộ trình hình thành, phát triển thị trường than; đặc biệt chưa tạo lập được một cách đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường theo hướng tạo dựng một thị trường than hoàn chỉnh có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thể chế quản lý, vận hành minh bạch và tính cạnh tranh theo đúng thông lệ thị trường nói chung. Ngành than chủ yếu vẫn do Nhà nước nắm độc quyền đầu tư từ A đến Z thông qua Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.

Điều này được thể hiện rõ rệt trong phân tích về hiện trạng thị trường than dưới đây.

Hiện trạng

Sản lượng than tiêu thụ trong nước đã có sự tăng lên đáng kể từ mức 10 triệu tấn năm 2002 lên khoảng 28 triệu tấn năm 2013, trong đó chủ yếu là than sản xuất trong nước 27,5 triệu tấn (chiếm 98,2%), than nhập khẩu chỉ khoảng 0,5 triệu tấn (chiếm 1,8%): gồm than mỡ khoảng hơn 100 ngàn tấn dùng cho luyện kim và than subbitum (than nồi hơi hoặc than năng lượng) khoảng 400 ngàn tấn dùng cho sản xuất điện ở miền Nam.

Sự chênh lệch này xuất phát từ nguồn cung than trong nước khá dồi dào, có giá cạnh tranh hơn than nhập khẩu. Tuy nhiên, theo nhận định mối tương quan này đang ngày càng mất dần.

Là tập đoàn kinh tế nhà nước được giao nhiệm vụ chính trong việc khai thác và cung ứng than cho nền kinh tế, cho đến nay TKV là nhà cung cấp than chủ yếu trên thị trường than trong nước (chiếm tới 98%), đồng thời cũng là nhà xuất khẩu than duy nhất.

Vừa qua, thực hiện chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn, tổng công ty nhà nước, Tổng công ty Đông Bắc - một công ty con của TKV được tách ra khỏi TKV và trở thành tổng công ty độc lập do Bộ Quốc phòng quản lý.

Như vậy, từ năm 2014, ngoài TKV sẽ có các đơn vị khai thác, cung cấp than cho thị trường trong nước gồm Tổng công ty Đông Bắc, Tổng công ty 319 (đều là của Bộ Quốc phòng), Vietmindo (doanh nghiệp FDI) và một số đơn vị khác đã và sẽ được cấp phép khai thác than cùng hoạt động trên địa bàn Quảng Ninh. Hiện nay, ngoài TKV, các Tập đoàn PVN, EVN... đã và đang thành lập các công ty nhập khẩu than từ nước ngoài. Ngoài ra, các công ty nước ngoài cũng sẽ chủ động xuất khẩu than vào Việt Nam khi nhu cầu than vượt quá khả năng khai thác trong nước và có giá cạnh tranh hơn.

Như vậy, sắp tới trên thị trường than sẽ có sự sôi động nhất định vì có sự cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Về cơ chế giá than

Theo Pháp lệnh giá ban hành năm 2002, than là mặt hàng không thuộc diện bình ổn giá. Việc định giá than do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh than thực hiện theo cơ chế thị trường.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, do than là đầu vào chính của một số mặt hàng thuộc Danh mục hàng hoá thực hiện bình ổn giá như: xi măng, sắt thép, phân bón cũng như là đầu vào của điện-mặt hàng do Nhà nước định giá. Nên trên thực tế giá than vẫn do Nhà nước quản lý. Việc xác định và điều chỉnh giá than phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận hoặc phê duyệt, nhất là đối với giá than bán cho các hộ sản xuất điện, xi măng, phân bón và giấy.

Cụ thể là tại Quyết định số 20/2003/QĐ-TTg ngày 29/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2003-2010 có xét triển vọng đến năm 2020” đã yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan căn cứ vào từng thời kỳ, tình hình sản xuất và tiêu thụ than, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định giá bán than hợp lý cho bốn hộ tiêu thụ than lớn: điện, xi măng, giấy và đạm theo nguyên tắc bù đắp đủ chi phí sản xuất hợp lý để tiến tới thực hiện giá bán than theo cơ chế thị trường vào năm 2006”. Dù vậy, đến năm 2012 trong Quyết định số 60/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030” vẫn nêu ngành than tiếp tục thực hiện lộ trình điều chỉnh giá bán than cho các hộ sử dụng trong nước theo cơ chế thị trường.

Chính vì vậy, đến năm 2013, giá than bán cho bốn ngành tiêu thụ than lớn: điện, xi măng, giấy và đạm, nhất là đối với hộ điện vẫn thấp hơn giá thành. Ngành than buộc phải tăng cường xuất khẩu than để lấy lợi nhuận từ xuất khẩu bù đắp chi phí cho phần than bán cho 4 ngành nêu trên và đầu tư phát triển mở rộng sản xuất. Đây là nguyên nhân chính làm cho sản lượng than xuất khẩu tăng cao trong thời gian qua, thậm chí trong nhiều năm, sản lượng than xuất khẩu vượt xa sản lượng than tiêu thụ trong nước khiến định hướng “có một phần hợp lý xuất khẩu để điều hòa về số lượng, chủng loại và tạo nguồn ngoại tệ” không thực hiện được.

Hiện nay, theo quy định của Luật giá (2012) và Nghị định 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giá thì than chỉ thuộc diện hàng hóa phải kê khai giá, còn giá than vận hành theo cơ chế thị trường. Việc kê khai giá than do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh than thực hiện theo quy định của Nghị định 177/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014.

Như vậy, giá than đã thực sự vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành than nói chung, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh than nói riêng tiết kiệm chi phí, khai thác tận thu tài nguyên, chủ động phương án kinh doanh theo hướng có hiệu quả cao nhất để tăng cường tích lũy cho đầu tư phát triển, mở rộng quy mô sản lượng, đáp ứng nhu cầu than trong nước ngày càng tăng cao. Từ đó, buộc các ngành tiêu thụ than sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hạn chế các hiện tượng tiêu cực trong sản xuất, kinh doanh than.

Một số vấn đề chính về thị trường than trong thời gian tới

Theo dự báo trong Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến 2020, có xét triển vọng đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 60/2012/QĐ-TTg, thì nhu cầu than trong nước thời gian tới sẽ tăng rất cao. Theo phương án cơ sở thì cụ thể:

TT

Hộ tiêu thụ

2015

2020

2025

2030

1

Tổng số (106T)

56,2

112,3

145,5

220,3

1.1

Các ngành khác

22,6

29,5

32,8

39,0

1.2

Nhiệt điện

33,6

82,8

112,7

181,3

Như vậy, so với mức tiêu thụ năm 2013 đến năm 2015 nhu cầu than trong nước sẽ tăng gấp 2 lần, đến năm 2020 tăng gấp 4 lần và đến năm 2030 tăng gấp 8 lần.

Nếu dựa theo những số liệu dự báo nhu cầu than trong hai năm trước đây thì có thể thấy những dự báo trên đây là quá cao. Ví dụ, năm 2012 dự báo nhu cầu là 32,9 triệu tấn, thực tế chỉ là 25,3 triệu tấn, bằng 76,9%; năm 2013 dự báo nhu cầu là 38,3 triệu tấn, thực tế khoảng 28 triệu tấn, bằng 73,1%.

Nguyên nhân chủ yếu làm cho nhu cầu than thực tế giảm so với dự báo là 2 năm vừa qua do nguồn nước nhiều nên thủy điện huy động tăng lên. Cùng với đó, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nên nhu cầu điện cũng giảm so với dự báo. Nhưng ngay cả khi nhu cầu than thực tế chỉ bằng khoảng 80% nhu cầu dự báo thì cũng đã là rất cao. Khi đó nhu cầu than đến năm 2015 sẽ là 45 triệu tấn, tăng so với năm 2013 là 17 triệu tấn (bình quân mỗi năm tăng 8,5 triệu tấn, bằng sản lượng của 4 mỏ hầm lò cỡ lớn) và đến năm 2020 là 90 triệu tấn, tăng so với năm 2013 là 62 triệu tấn (bình quân mỗi năm tăng 12,4 triệu tấn, bằng sản lượng của 6 mỏ hầm lò cỡ lớn). Rõ ràng mức tăng đó là quá cao so với tiến độ xây dựng các mỏ than mới và vấn đề đặt ra là khả năng nâng cao sản lượng than trong nước sẽ như thế nào trong thời gian tới.

Nguồn cung ứng than trong nước gặp nhiều khó khăn

Thứ nhất, tài nguyên than đã được thăm dò có khả năng huy động vào khai thác bị suy giảm và mức độ tin cậy thấp. Theo Báo cáo của TKV, ngày 16/12/2013 về tình hình thực hiện Quy hoạch phát triển than đã được phê duyệt theo Quyết định số 60/2012/QĐ-TTg (Quy hoạch 60) thì tổng trữ lượng và tài nguyên bể than Đông Bắc và vùng Nội địa giảm 1.875.988 ngàn tấn (giảm 20,8%) so với Quy hoạch 60, do việc cập nhật tài nguyên, trữ lượng theo Báo cáo kết quả giai đoạn 1 Đề án “Điều tra, đánh giá tiềm năng than dưới mức -300m, bể than Quảng Ninh” đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt trước đó.

Như vậy, chỉ sau 1 năm phê duyệt Quy hoạch 60, trữ lượng than đã “bốc hơi” gần 2 tỉ tấn do mức độ tin cậy thấp của số liệu báo cáo thăm dò. Tính đến 31/12/2013, tổng trữ lượng và tài nguyên bể than Đông Bắc và vùng Nội địa còn lại là 6.933.125 ngàn tấn, trong đó phần tài nguyên đạt cấp trữ lượng rất thấp, chỉ khoảng 30%. Ngoài ra, việc khai thác bể than Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) hiện chưa rõ về công nghệ và giải pháp bảo vệ môi trường, ngay cả khả năng khai thác thử nghiệm theo dự kiến cũng bị lùi lại. Hiện còn chưa biết sẽ làm ở địa điểm nào và khi nào bắt đầu.

Thứ hai, khả năng nâng cao sản lượng khai thác bị hạn chế và giảm so với Quy hoạch đã được duyệt. Theo Quy hoạch 60, sản lượng than thương phẩm dự kiến đến năm 2030 (triệu tấn) như sau:

TT

P/a sản lượng

2015

2020

2025

2030

I

P/a không có than ĐBSH

57,4

62,3

68,1

65,6

II

P/a có than ĐBSH

57,4

62,8

70,0

75,7

- Đồng bằng Sông Hồng

0

0,5

1,9

10,1

Nhưng đến thời điểm này có thể khẳng định, việc khai thác than ở ĐBSH trong giai đoạn này là chưa thể thực hiện được. Do vậy, mức sản lượng tối đa đến năm 2025-2030 theo Quy hoạch 60 có thể đạt chỉ là khoảng 65 triệu tấn.

Tuy nhiên, theo báo cáo của TKV về tình hình thực hiện Quy hoạch 60 sau khi rà soát lại tình hình tài nguyên, trữ lượng than thì khả năng tối đa chỉ đạt sản lượng than thương phẩm khoảng 55 triệu tấn/năm, hụt so với Quy hoạch 60 khoảng 10 triệu tấn.

Như vậy, so sánh nhu cầu dự báo và khả năng khai thác trong nước cho thấy từ năm 2015 sẽ thiếu than và đến năm 2020 tối đa chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu, đặc biệt than cho sản xuất điện sẽ thiếu trầm trọng. Ước tính đến năm 2015 thiếu khoảng 3 triệu tấn và đến năm 2020 ít nhất thiếu hơn 40 triệu tấn, bằng tổng sản lượng than toàn ngành năm 2013.

Thứ ba, nhu cầu vốn đầu tư tăng cao. Theo tính toán trong Quy hoạch 60, tổng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2030 là 690.875 tỷ đồng, bình quân là 36.362 tỷ đồng mỗi năm, trong đó đầu tư mới 29.797 tỷ đồng và đầu tư duy trì công suất là 6.565 tỷ đồng. Nếu không tính đến vốn đầu tư khai thác than ĐBSH thì bình quân mỗi năm cần khoảng hơn 32 ngàn tỷ đồng (tương đương khoảng 1,5 tỷ USD/năm), riêng đầu tư mới khoảng 26 ngàn tỷ đồng/năm. Trong khi đó, tổng nguồn vốn chủ sở hữu của TKV (bao gồm cả Tổng công ty Đông Bắc) đến năm 2013 chỉ có khoảng 32 ngàn tỷ đồng, riêng sản xuất than chỉ khoảng hơn 18 ngàn tỷ đồng.

Theo quy định của Luật Khoáng sản để được cấp phép hoạt động khoáng sản vốn của chủ sở hữu tối thiểu phải bằng 30% tổng mức đầu tư đối với hoạt động khai thác và 50% đối với công tác thăm dò. Với nhu cầu vốn đầu tư mới là 26 tỷ đồng/năm thì mỗi năm vốn chủ sở hữu phải có ít nhất khoảng 7,8 ngàn tỷ đồng. Trong khi đó, với tổng vốn chủ sở hữu của sản xuất than hiện có thì vốn đầu tư từ nguồn khấu hao cơ bản hàng năm chỉ có khoảng 1,8 ngàn tỷ đồng, chỉ bằng khoảng 23% mức vốn quy định. Còn nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sau thuế để lại cho doanh nghiệp (tức là quỹ đầu tư phát triển trích lập từ lợi nhuận sau thuế), nếu có cũng rất hạn hẹp vì hiệu quả sản xuất than ngày càng giảm do giá bán than giảm, trong khi giá thành tăng cao. Hơn nữa, theo quy định mới thì quỹ đầu tư phát triển chỉ được trích lập tối đa bằng 30% lợi nhuận sau thuế. Như vậy, nguồn vốn đầu tư cho phát triển than trong thời gian tới sẽ thiếu trầm trọng so với nhu cầu đầu tư.

Lẽ ra, trong bối cảnh đó phải có chính sách, biện pháp và hình thức thích hợp để thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế thì hiện đang có biểu hiện của tình trạng cấp phép khai thác than tràn lan, kể cả cho những tổ chức, cá nhân không đủ năng lực theo quy định. Cần lưu ý rằng, thời điểm này điều kiện tài nguyên không còn thuận lợi để khai thác theo kiểu “bóc ngắn cắn dài”, tàn phá môi trường. Mà việc khai thác phải chuyển sang khai thác lộ thiên xuống sâu dưới mực nước biển với hệ số bóc đất đá thậm chí trên 15m3/tấn hoặc phải khai thác hầm lò trong điều kiện có nguy cơ cao về cháy nổ, bục nước, sập đổ lò... đòi hỏi phải có công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến, đội ngũ cán bộ chuyên gia trình độ cao, công nhân kỹ thuật lành nghề, giàu kinh nghiệm và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về tận thu tài nguyên, an toàn và bảo vệ môi trường.

Thứ tư, giá thành khai thác tăng cao, chủ yếu do các nguyên nhân sau:

Do phần trữ lượng than có điều kiện khai thác thuận lợi, giá thành thấp đã cạn kiệt, phải chuyển sang khai thác phần trữ lượng than có điều kiện khai thác khó khăn, phức tạp, giá thành tăng cao. Ở các mỏ lộ thiên trước đây có hệ số bóc đất đá bình quân vào khoảng 4-5 m3/tấn than và cung độ vận chuyển đất đá khoảng 2-3 km, thì nay hệ số bóc đất đá đã tăng lên trên 10 m3/tấn, thậm chí lên đến 15 m3/tấn và cung độ vận chuyển bình quân lên đến 4-5 km. Dự báo trong tương lai sẽ còn tăng hơn nữa. Trước đây, tỷ lệ sản lượng khai thác hầm lò chỉ vào khoảng 30-35% thì nay đã tăng lên trên 50% và sắp tới lên khoảng 70%. Hơn nữa, điều kiện khai thác hầm lò cũng khó khăn, phức tạp hơn khi xuống sâu có nhiều rủi ro về nổ khí, bục nước, cháy lò, sập lò... Ngoài ra, phần trữ lượng than có chất lượng tốt, giá bán cao cạn kiệt dần, trong khi phần trữ lượng than chất lượng thấp, giá bán thấp tăng cao.

Chính sách thuế, phí của Nhà nước đối với khoáng sản nói chung và đối với than nói riêng ngày càng tăng cao làm cho giá thành than tăng cao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường, thuế môn bài, thuế nhà đất…

Các loại phí bao gồm: phí bảo vệ môi trường, nước thải, lệ phí cấp giấy phép thăm dò, lệ phí cấp phép khai thác, hoàn trả chi phí điều tra cơ bản địa chất, ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường. Thêm vào đó là tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Đây là một khoản thu mới theo quy định của Luật Khoáng sản. Theo Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 Quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, đối với than khoản thu này ước tính bằng khoảng 1/3 mức thuế tài nguyên. TKV hàng năm phải nộp thêm khoản tiền này khoảng trên 1 ngàn tỷ đồng.

Những vấn đề nêu trên không những làm giảm hiệu quả kinh doanh than, mà còn tác động tiêu cực đến việc khai thác tận thu tài nguyên. Than là tài nguyên thiên nhiên không tái tạo và hữu hạn, đối với nước ta tài nguyên than cũng không phải là dồi dào, lẽ ra trong bối cảnh đó thay vì chính sách thu thuế, phí cao Nhà nước phải có chính sách khuyến khích tận thu tối đa tài nguyên than để góp phần đáp ứng nhu cầu.

Nguồn than nhập khẩu còn nhiều ẩn số

Để đáp ứng nhu cầu than, Quy hoạch 60 đã đề ra chủ trương nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài khai thác than đưa về nước. Tuy nhiên, việc nhập khẩu than dài hạn với khối lượng hàng chục triệu đến hơn trăm triệu tấn/năm là vô cùng khó khăn do nguồn cung than ngày càng hạn chế trong khi nhu cầu than của các nước ngày càng tăng với sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường.

Muốn có nguồn than ổn định phải đầu tư mua mỏ ở nước ngoài để khai thác. Nhưng đây là dạng đầu tư mạo hiểm và nhiều rủi ro, hơn nữa cơ hội mua mỏ than ở các nước có tiềm năng về than như Indonesia, Úc,… không còn dễ do các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ,… đã triển khai đầu tư mua mỏ ở các nước đó từ hàng chục năm nay. Nếu không có chủ trương, chính sách quyết liệt và bảo lãnh của Chính phủ thì các doanh nghiệp không đủ tiềm lực và không dám đầu tư mua mỏ ở nước ngoài. Hơn nữa, để có thể nhập khẩu từ chục triệu đến hơn trăm triệu tấn than mỗi năm, ngoài đội tàu vận tải biển hùng hậu cần phải có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ phục vụ nhập khẩu than như hệ thống cảng biển, cảng sông, bến bãi, kho chứa…Muốn vậy, cần phải có quy hoạch địa điểm các hộ sử dụng than nhập khẩu, thời điểm và chủng loại than nhập khẩu. Nhưng hiện nay, tất cả những vấn đề này đều còn là ẩn số.

Một số giải pháp về thị trường và đáp ứng nhu cầu than trong nước

Thứ nhất, tạo lập thị trường than cạnh tranh, công khai, minh bạch. Đẩy nhanh việc hoàn thiện và xây dựng đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường theo hướng tạo dựng một thị trường than hoàn chỉnh có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thể chế quản lý, vận hành minh bạch, công khai và tính cạnh tranh theo đúng thông lệ thị trường. Đặc biệt, để đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cần tăng cường năng lực và chất lượng quản lý nhà nước về thị trường cũng như về công tác quy hoạch, cấp phép, quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động khai thác, kinh doanh than, đảm bảo khai thác hợp lý, giảm tổn thất tài nguyên, an toàn, bảo vệ môi trường và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các trách nhiệm xã hội theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, đảm bảo sản lượng than khai thác trong nước gồm:

Đẩy mạnh công tác thăm dò nâng cấp tài nguyên với mức độ tin cậy cao để đảm bảo đủ trữ lượng than đưa vào khai thác. Trong đó, khẩn trương cấp phép thăm dò cho TKV (đơn vị chủ lực được giao nhiệm vụ chính thực hiện Quy hoạch 60) để triển khai thực hiện công tác thăm dò theo đúng tiến độ, đặc biệt là cấp phép thăm dò tiến tới lập dự án khai thác các khu mỏ mới vùng Bảo Đài, Đông Quảng lợi (thuộc Bắc Giang và Quảng Ninh) để đưa nhanh các mỏ này vào tham gia sản lượng giai đoạn sau 2022 ở mức 5,5 triệu tấn than nguyên khai/năm. Chỉ cấp phép khai thác than cho các đơn vị khác ngoài TKV có đủ năng lực thực sự theo quy định.

Phát huy tối đa lợi thế khai thác lộ thiên (công suất lớn, năng suất và hệ số thu hồi than cao, an toàn, đã có thiết bị và kinh nghiệm về công nghệ khai thác dưới sâu) trên cơ sở nâng cao hệ số bóc một cách tối đa (đảm bảo giá thành thấp hơn giá than nhập khẩu) bằng cách áp dụng các thiết bị công nghệ đồng bộ công suất lớn và hình thức vận tải liên tục.

Đối với khai thác than hầm lò thì cần tích cực nghiên cứu tìm kiếm công nghệ khai thác thích hợp. Cùng với đó, tăng cường áp dụng cơ giới hóa đến mức cao nhất trên cơ sở hợp tác với các đối tác nước ngoài có năng lực về công nghệ, chế tạo thiết bị và tài chính theo hướng từng bước nội địa hóa khâu chế tạo thiết bị phục vụ cơ giới hóa.

Đẩy nhanh việc nghiên cứu công nghệ khai thác than tại các khu vực cần phải bảo vệ nghiêm ngặt bề mặt hoặc nằm dưới các vùng quy hoạch của địa phương. Hiện nay, tại Quảng Ninh tổng tài nguyên, trữ lượng than tại các khu vực có khả năng chồng lấn giữa Quy hoạch của tỉnh và Quy hoạch 60 vào khoảng hơn 2 tỷ tấn.

Nâng cao tốc độ đào lò tối thiểu lên gấp 1,5 – 2 lần hiện nay để đảm bảo đưa các dự án hầm lò mới vào hoạt động theo đúng tiến độ.

Cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn lao động và có chính sách thích đáng thu hút công nhân hầm lò như: chính sách tiền lương, bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe, điều kiện đi lại, sinh hoạt văn hóa thể thao, hỗ trợ nhà ở.

Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đổi mới cơ chế quản lý theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trên cơ sở triệt để tiết giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng.

Nhà nước cần có cơ chế chính sách hợp lý để tạo vốn đầu tư phát triển than và khuyến khích khai thác tận thu tối đa tài nguyên than. Cụ thể, giảm mức vốn đối ứng của chủ đầu tư từ 30% xuống 15%, 20% và 25% tổng mức đầu tư tùy theo quy mô vốn của từng dự án; Kiên quyết thực hiện giá than trong nước, nhất là cho sản xuất điện theo cơ chế giá thị trường; Nhà nước xem xét điều chỉnh các chính sách thuế, phí đối với tài nguyên khoáng sản và than theo hướng khuyến khích khai thác tận thu tối đa tài nguyên thay vì tăng cao như hiện nay; Do than antraxit có giá trị cao cho nên cần cho phép duy trì xuất khẩu ở mức hợp lý các loại than mà nhu cầu trong nước chưa sử dụng hết để có ngoại tệ nhập thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất than cũng như nhập khẩu than nồi hơi có giá rẻ hơn để sản xuất điện.; Nhà nước bảo lãnh hoặc có chính sách thích hợp hỗ trợ ngành than vay vốn từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, huy động vốn trên thị trường quốc tế phù hợp với tình hình thực tế của từng dự án, nhất là các dự án khai thác than ĐBSH; Tăng cường xã hội hóa đầu tư khai thác kinh doanh than theo hướng huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư theo hình thức BO đối với các công trình, hạng mục công trình phục vụ dây chuyền chính khai thác than như băng tải chở than, đất đá, ô tô chở đất đá, nhà máy tuyển than,... Việc thực hiện xã hội hóa đầu tư phải tuân thủ nguyên tắc “cái gì xã hội làm được và làm có hiệu quả hơn thì để xã hội làm”; các tập đoàn, DNNN chủ yếu chỉ nắm quyền chỉ huy, điều hành và nắm đầu ra thông qua nắm quyền chủ mỏ hoặc các khâu then chốt.

Hợp tác với các đối tác nước ngoài đẩy nhanh việc nghiên cứu tìm kiếm công nghệ khai thác hợp lý và khai thác thử nghiệm tại Bể than ĐBSH để làm cơ sở cho việc triển khai trên quy mô lớn công tác thăm dò và khai thác trong tương lai khi có đủ điều kiện.

Thứ ba, chế biến và sử dụng than tiết kiệm nhằm giảm nhu cầu và ô nhiễm.Theo đó, Chính phủ chỉ đạo Bộ Công Thương xây dựng chính sách sử dụng than hợp lý, nhất là về chủng loại và chất lượng phù hợp cho các hộ sử dụng than: điện, xi măng, phân bón…và sắp xếp thứ tự ưu tiên cho các nhà máy nhiệt điện sử dụng than trong nước ở phía Bắc, các hộ sử dụng than nhập khẩu ở phía Nam.

Nghiên cứu chính sách khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo nhằm giảm áp lực vào nhiên liệu hóa thạch; tiến tới hạn chế các nhà máy điện dùng than để chuyển sang sử dụng dạng năng lượng khác nhằm giảm nhập khẩu than. Có chính sách giảm sử dụng than của các hộ khác để dành than cho điện như hạn chế sử dụng vật liệu nung, khuyến khích sử dụng vật liệu không nung trong các dự án xây dựng công trình; khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng khác phục vụ nhu cầu chất đốt sinh hoạt, sấy nông sản thực phẩm…Quy hoạch các làng nghề đang sử dụng than mà hiệu suất thấp và gây ô nhiễm môi trường, tiến tới hạn chế và không dùng than. Cùng với đó, ban hành chính sách sử dụng than hợp lý, đẩy mạnh nghiên cứu chế biến than nhằm tạo ra sản phẩm than sạch, nhất là than cho luyện kim để giảm nhập khẩu và sử dụng tiết kiệm, giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình sử dụng than.

Thứ tư, đảm bảo nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài khai thác than. Theo đó, Chính phủ chỉ đạo Bộ Công Thương xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài để khai thác than đưa về phục vụ trong nước. Đồng thời, có các giải pháp về cơ chế chính sách tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế nhà nước cũng như các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác đầu tư ra nước ngoài khai thác mỏ, nhất là chính sách bảo lãnh mua quyền khai thác mỏ.

Nhà nước hỗ trợ về đường lối, chính sách, quan hệ ngoại giao tạo sức mạnh tổng thể khi đàm phán với các đối tác trong việc đầu tư vào các mỏ tại nước sở tại và mua than để nhập khẩu về Việt Nam nhằm đảm bảo nguồn cung được ổn định và lâu dài.

Trên cơ sở Chiến lược nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài khai thác than được duyệt, đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và năng lực vận chuyển phục vụ nhập khẩu than.

TS. NGUYỄN THẾ CHINH
Bộ Tài nguyên và Môi trường

I. Khái quát về nguồn nhiên liệu, năng lượng và khả năng khai thác của Viêt Nam

- Nguồn nhiên liệu và năng lượng của nước ta, trước hết phải kể đến đó là than. Khai thác và sử dụng than ở Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời, từ khi người Pháp đến nước ta cách đấy hàng trăm năm, mức độ khai thác, sử dụng và xuất khẩu ngày càng tăng. Xét về trữ lượng, tính đến 1/1/2005 tổng trữ lượng than đã tìm kiếm thăm dò khoảng 6,14 tỷ tấn. Về trữ lượng và chủng loại than phân theo các cấp và của Việt Nam thể hiện thông qua bảng 1 dưới đây.

Bảng 1. Trữ lượng than phân theo các cấp và các chủng loại than

Hạng mục

Trữ l­ượng xác minh

(TK-TD)

Phân chia trữ lượng đã xác minh theo cấp (1000 tấn)

A+B+C

A+B

C 1

C 2

P

Tổng cộng

6 140 683

5 629 252

356 789

2 264 480

3 007 983

511 431

1

Bể than QN

4 121 745

4121745

301335

1508643

2311767

0

Vùng nội địa-TKV

165 110

165110

55454

91901

17755

0

Các mỏ than địa phương

37 434

18478

0

10238

8240

18956

Vùng than ĐBSH

1 580 956

1088481

0

524871

563610

492475

Tổng Antraxit+ khác

5 905 245

5 393 814

356 789

2 135 653

2 901 372

511 431

2

Than bùn

235 438

235 438

0

128 827

106 611

0

Nguồn: Trung tâm Tư vấn mỏ và Công Nghiệp-TVN, 2008. MPI, UNDP. Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030. Hỗ trợ xây dựng, thực hiện Chiến lược Quốc gia về TĂNG TRƯỞNG XANH. Số đăng ký ĐKXB: 1287-2013/CXB/06-632/BĐ.

Về khả năng khai thác than, dựa trên cơ sở dự báo cho giai đoạn 2015-2030 trong quy hoạch phát triển ngành than theo số liệu bảng 2 dưới đây cho thấy:

Bảng 2. Tổng hợp khả năng khai thác than đến năm 2030

Năm

2015

2020

2025

2030

Sản lượng (triệu tấn)

55-58

60-65

66-70

Trên 75

Nguồn: P3, số 60/QĐ-TTg, ngày 09/01/2012. MPI, UNDP. Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030. Hỗ trợ xây dựng, thực hiện Chiến lược Quốc gia về TĂNG TRƯỞNG XANH. Số đăng ký ĐKXB: 1287-2013/CXB/06-632/BĐ.

Mỗi chu kỳ kế hoạch 5 năm tổng sản lượng khai thác than tăng khoảng 1-5 triệu tấn, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

- Về dầu khí, cho đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia thuộc nhóm nước có nhiên liệu về dầu và khí. Tổng trữ lượng dầu khí có thể đưa vào khai thác ở nước ta khoảng 3,8-4,2 tỷ tấn quy đổi (TOE), trong đó trữ lượng đã được xác định khoảng 60%, chi tiết thể hiện cụ thể thông qua bảng số liệu số 3 dưới đây về trữ lượng đã được xác minh và chưa được xác minh.

Bảng 3. Tổng hợp trữ lượng dầu khí đã xác minh và chưa xác minh

Danh mục

Tổng (tỷ tấn dầu quy đổi-TOE)

Tổng trữ lượng và tiềm năng dầu khí

3,8 - 4,2

Trong đó:

- Trữ lượng đã xác minh

- Chưa xác minh

1,05 - 1,14

2,75 - 3,06

Nguồn: MPI, UNDP. Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030. Hỗ trợ xây dựng, thực hiện Chiến lược Quốc gia về TĂNG TRƯỞNG XANH. Số đăng ký ĐKXB: 1287-2013/CXB/06-632/BĐ.

Khả năng khai thác dầu thô so với năm 2010 dự báo đến năm 2020 sẽ sụt giảm, còn 16-17 triệu tấn/năm. Từ năm 2015-2025, khả năng khai thác được thể hiện thông qua bảng 4 dưới đây.

Bảng 4. Quy hoạch khai thác dầu thô đến năm 2025 (1)

Năm

2015

2020

2025

PA cơ sở (106 tấn)

20,0

20,7

21,7

Trong đó nội địa (106 tấn)

17,0

16,3

16,2

Nguồn: MPI, UNDP. Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030. Hỗ trợ xây dựng, thực hiện Chiến lược Quốc gia về TĂNG TRƯỞNG XANH. Số đăng ký ĐKXB: 1287-2013/CXB/06-632/BĐ.

Sự sụt giảm về khai thác dầu thô sẽ phải thay thế và bù đắp vào các nguồn nhiên liệu năng lượng tiềm năng khác, nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế. Đối với khí đốt, khả năng khai thác sẽ tăng, giai đoạn 2011-2015 sẽ đạt mức từ 10,7 tỷ m3 lên 19 tỷ m3.

- Về thủy điện, theo đánh giá của các nghiên cứu gần đây, tiềm năng về kinh tế-kỹ thuật thủy điện của nước ta đạt khoảng 75-80 tỷ kWh, với công suất tương ứng đạt 18.000-20.000MW. Trong đó tiềm năng kinh tế của 10 lưu vực sông chính khoảng 85,9% của các lưu vực sông trong cả nước. Như vậy tổng trữ lượng kinh tế kỹ thuật của các lưu vực sông chính hơn 18.000MW, cho phép sản lượng điện năng tương ứng khoảng 70 tỷ kWh. Theo dự báo kế hoạch phát triển thủy điện trong Tổng sơ đồ điện VII đến năm 2020, toàn bộ trữ lượng tiềm năng kinh tế-kỹ thuật của thủy điện lớn sẽ được khai thác hết, như vậy năng lượng thủy điện từ các dòng sông chính sẽ không còn khả năng khai thác nữa.

Đối với năng lượng thủy điện nhỏ, với mức công suất nhỏ hơn hoặc bằng 30MW, theo đánh giá tiềm năng chúng ta có khoảng hơn 1.000 điểm có thể khai thác và cho tổng công suất khoảng 7.000MW, hiện nay các điểm này đã được xác định và đạt tiềm năng kỹ thuật. Thực tế đã có 114 dự án, với tổng công suất khoảng 850 MW đã cơ bản hoàn thành, 228 dự án với công suất trên 2.600 MW đang xây dựng và 700 dự án đang giai đoạn nghiên cứu. Ngoài ra các dự án thủy điện cực nhỏ công suất dưới 100kW phù hợp với vùng sâu, vùng xa, những nơi có địa hình hiểm trở có thể tự cung tự cấp theo lưới điện nhỏ và hộ gia đình cũng đã và đang được khai thác.

- Về năng lượng mặt trời, với vị trí địa lý của Việt Nam nằm trong giới hạn giữa xích đạo và chí tuyến Bắc, thuộc vùng nội chí tuyến có ánh nắng mặt trời chiếu sáng quanh năm, nhất là khu vực nam bộ. Với tổng số giờ nắng trong năm dao động trong khoảng 1.400-3.000 giờ, tổng lượng bức xạ trung bình năm vào khoảng 230-250 lcal/cm2/ngày tăng dần từ Bắc vào Nam, với kết quả này có thể đánh giá Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời. Tuy nhiên hiện nay việc khai thác và sử dụng nguồn năng lượng này còn hạn chế, nhất là sử dụng cho phát điện, đun nước nóng và vào sấy khô… một trong những nguyên nhân cơ bản là giá sử dụng nguồn năng lượng này so với các nguồn năng lượng khác kém cạnh tranh trên thị trường, mặt khác cơ chế chính sách khuyến khích sử dụng năng lượng mặt trời và nhận thức của người dân cũng còn hạn chế. Trong tương lai khi mà khai thác các nguồn năng lượng khác đã đến mức tới hạn thì nguồn năng lượng mặt trời là một tiềm năng lớn.

- Năng lượng sinh khối, nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á so với nhiều quốc gia khác, sinh khối của Việt Nam tăng trưởng nhanh, chính vì vậy chúng ta có một nền nông nghiệp đa dạng và phát triển, nhiều sản phẩm xuất khẩu trên thế giới những năm qua đã chứng minh điều đó như lúa gạo, cà phê, hạt điều… nguồn phế thải từ sản phẩm nông nghiệp là rất lớn, đây là tiềm năng để chúng ta sử dụng nguồn năng lượng này trong tương lai. Mặt khác năng lượng sinh khối còn được sử dụng từ các phế thải của chăn nuôi, rác thải hữu cơ đô thị và các chất thải hữu cơ khác. Theo đánh giá của các nghiên cứu gần đây tính toán tiềm năng và khả năng khai thác năng lượng sinh khối rắn cho năng lượng và phát điện của Việt Nam có thể đạt 170 triệu tấn và đạt mức sản lượng điện 2.000MW phụ thuộc vào giá trị trường. Thực tế khai thác nguồn năng lượng này ở Việt Nam đã và đang phát triển, tuy nhiên mới ở quy mô nhỏ và hộ gia đình, trong tương lai đây cũng là nguồn năng lượng lớn và có nhiều tiềm năng của Việt Nam.

- Năng lượng gió, với đặc điểm nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á, lại có một bờ biển dài trên 3.000 km, lãnh hải lớn hơn 3 lần so với lục địa, theo khảo sát, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng về năng lượng gió. Hiện nay chưa có số liệu chính xác đánh giá tiềm năng năng lượng gió chính xác, nhưng sơ bộ các đánh giá khác nhau đưa ra con số tiềm năng năng lượng gió của Việt Nam dao động trong khoảng 1.785MW-8.700MW, có số liệu còn đưa ra khoảng trên 100.000 MW (dự báo của WB), như vậy nếu so với tiềm năng của thủy điện thì nguồn năng lượng gió của Việt Nam rất dồi dào. Cũng có những nhìn nhận cho rằng năng lượng gió không chỉ ở khu vực ven biển, mà ở những vùng núi của Việt Nam nhất là giữa các thung lũng dọc các sông, suối tiềm năng năng lượng gió là rất lớn. Chúng ta đã bắt đầu triển khai một số dự án khai thác nguồn năng lượng này ở Cà Mau, Ninh Thuận và một số huyện đảo không thể đưa điện lưới từ đất liền ra, thực tế khai thác nguồn năng lượng gió cho thấy giá thành điện của nguồn năng lượng này khó cạnh tranh trên thị trường so với các nguồn năng lượng khác như thủy điện và nhiệt điện nếu không có trợ giá của Nhà nước.

- Năng lượng địa nhiệt, đây là nguồn năng lượng trong lòng đất, chúng ta cũng mới điều tra và tính toán ban đầu, cần phải tiếp tục điều tra kỹ lưỡng. Số liệu sơ bộ cho thấy tiềm năng địa nhiệt của Việt Nam có thể khai thác đạt mức 340MW, năng lượng địa nhiệt phân bố rải rác trong cả nước, nhưng khai thác hiệu quả nhất chủ yếu ở khu vực miền Trung.

- Các dạng năng lượng khác, ngoài các nguồn nhiên liệu và năng lượng đã đề cập ở trên, từ kinh nghiệm khai thác các nguồn năng lượng khác đã có trên thế giới, ở Việt Nam còn có tiềm năng về năng lượng biển như thủy triều, các dò hải lưu, băng cháy dưới đáy biển, chúng ta đang tiếp tục nghiên cứu để nhận dạng và đánh giá trữ lượng và khả năng đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế nhất là trong chiến lược khai thác năng lượng trong dài hạn.

II. Tương quan kinh tế và năng lượng ở Việt Nam

Hiện nay đã có những nghiên cứu khá chi tiết và đưa ra các mô hình dự báo về mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và khả năng đáp ứng về nhu cầu nhiên liệu và năng lượng đến năm 2030, trong đó đưa ra các kịch bản khác nhau dựa trên cơ sở tiềm năng nguồn nhiên liệu năng lượng sẵn có, sự biến động dân số, thực tiễn đã khai thác sử dụng đáp ứng nhu cầu phát triển những năm trước đây, kịch bản về tăng trưởng kinh tế và dự bảo đến năm 2030.

Về kịch bản tăng trưởng kinh tế tính theo chỉ tiêu GDP, được dự báo theo nghiên cứu của nhóm phân tích và dự báo của Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và đầu tư được thể hiện thông qua bảng 5 dưới đây.

Bảng 5. Dự báo tăng trưởng GDP giai đoạn đến 2030

Lĩnh vực

2011-2015

2016-2020

2021-2030

P/A

Thấp

Cơ sở

Cao

Thấp

Cơ sở

Cao

Thấp

Cơ sở

Cao

Tăng trưởng GDP(%)

7,0

7,5

8,0

7,0

8,0

8,4

7,2

7,8

8,6

Nông-lâm-thuỷ sản (%)

2,7

3,0

3,0

2,0

2,2

2,2

2,0

2,2

2,2

CN-xây dựng(%)

7,5

8,4

9,0

7,5

8,6

9,3

7,4

8,1

9,1

Dịch vụ (%)

8,0

8,2

8,7

8,0

9,0

9,3

8,0

8,6

9,2

Nguồn: Nhóm nghiên cứu của Bộ KH&ĐT hỗ trợ lập TSĐ VII. MPI, UNDP. Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030. Hỗ trợ xây dựng, thực hiện Chiến lược Quốc gia về TĂNG TRƯỞNG XANH. Số đăng ký ĐKXB: 1287-2013/CXB/06-632/BĐ.

Như vậy, từ năm 2011-2030, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo chỉ tiêu GDP dao động trong mức 7-8,6%. Chỉ tiêu của các ngành cũng không có những đột biết lớn, đối với nông-lâm-thủy sản dao động trong mức 2-3%; ngành công nghiệp-xây dựng ở mức 7,5-9,3%; ngành dịch vụ dao động trong mức 8-9,3%. Như vậy sau mỗi giai đoạn chu kỳ 5 năm, mức tăng trưởng đều, đòi hỏi một sự đáp ứng năng lượng cũng phải tăng trưởng phù hợp.

Đối với dự báo về nhu cầu sử dụng năng lượng, nghiên cứu cũng đã chỉ ra đối với kịch bản cơ sở, giai đoạn 2010-2030 điện năng và tổng sản phẩm dầu chiếm tỷ trọng lớn trong suốt cả giai đoạn. Tỷ lệ tiêu thụ điện năng tăng từ 15,2% năm 2010 đến 32,1% năm 2030, còn đối với tiêu thụ than giảm nhẹ từ 20,1% xuống còn 18,2%, sử dụng khí đốt tăng từ 1% lên 1,6%, sản phẩm dầu tăng từ 33,7% lên 40,6%, đối với năng lượng phi thương mại giảm từ 28,9% xuống còn 7,5% tính cho giai đoạn 20 năm từ 2010 đến 2030.

Đối với sử dụng năng lượng dự báo cho các ngành, trên cơ sở tính toán và dự báo theo kịch bản tăng trưởng kinh tế, kết quả đưa ra được thể hiện thông qua biểu đồ 1 dưới đây.

Biểu đồ 1: Các lĩnh vực sử dụng năng lượng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2030

Nguồn: MPI, UNDP. Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030. Hỗ trợ xây dựng, thực hiện Chiến lược Quốc gia về TĂNG TRƯỞNG XANH. Số đăng ký ĐKXB: 1287-2013/CXB/06-632/BĐ.

Từ biểu đồ cho thấy, xét trong giai đoạn 2010-2030, ngành sử dụng nhiều năng lượng nhất là ngành công nghiệp, tiếp đến là giao thông vận tải, sau đó là dân dụng và dịch vụ thương mại. Đáng lưu ý tăng trưởng sử dụng năng lượng đối với ngành công nghiệp, giao thông vận tải và dịch vụ thương mại có sự tăng nhanh so với dân dụng và nông nghiệp.

Xét về tương quan tăng trưởng kinh tế và năng lượng giai đoạn 2005-2030 được các chuyên gia dự báo có một sự tăng đều thông qua biểu đồ 2 dưới đây.

Biểu đồ 2. Tương quan kinh tế và NL, từ năm 2005 đến 2030

Nguồn: MPI, UNDP. Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030. Hỗ trợ xây dựng, thực hiện Chiến lược Quốc gia về TĂNG TRƯỞNG XANH. Số đăng ký ĐKXB: 1287-2013/CXB/06-632/BĐ.

Từ biểu đồ 2 cho thấy so sánh tương quan giữa tăng trưởng kinh tế GDP và tổng nhu cầu năng lượng, từ năm 2025 đến năm 2030 khả năng thiếu năng lượng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế là không tránh khỏi, đòi hỏi ngay từ bây giờ chúng ta phải có chiến lược đáp ứng tổng nhu cầu năng lượng sớm.

III. Đề xuất giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế

Để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế và xã hội trong những năm tới, Việt Nam cần có những giải pháp phù hợp với thể chế kinh tế thị trường trong hoàn cảnh chúng ta ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, tính chất cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Thị trường năng lượng cũng giống như tất cả các loại thị trường hàng hóa khác, được thực hiện dựa trên nguyên lý cung - cầu, sự bao cấp của Nhà nước ngày càng giảm dần. Trong bối cảnh giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh theo quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012, nhiệm vụ Chiến lược đã đặt ra là giai đoạn 2011-2020 “giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8-10% so với mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP trong khoảng 1-1,5% mỗi năm. Giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10% đến 20% so với phương án phát triển bình thường”; Định hướng đến năm 2030 “giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm ít nhất 1,5-2%, giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 20% đến 30% so với phương án phát triển bình thường”; Định hướng đến năm 2050 “giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm 1,5-2%”. Từ thực tiễn đó đối với ngành năng lượng cần phải có những giải pháp mang tính đột phá và quyết tâm lớn mới thực hiện được các yêu cầu đặt ra đối với sự đáp ứng nhu cầu năng lượng của nền kính tế, muốn vậy cần có những giải pháp cơ bản như sau.

Thứ nhất, phát huy tối đa những ưu thế sẵn có về nguồn tài nguyên nhiên liệu và năng lượng sẵn có của Việt Nam, có tính cạnh tranh cao không chỉ đối với thị trường trong nước mà kể cả với thị trường khu vực và thế giới mà chúng ta có ưu thế.

Thứ hai, đối với những nguồn năng lượng chúng ta không có ưu thế, giá cả cao hơn so với nhập khẩu của các quốc gia khác, chúng ta nên nhập khẩu, chẳng hạn như than sản xuất điện hay điện năng, đảm bảo cán cân xuất nhập khẩu năng lượng cân bằng là tốt nhất, tiến tới xuất lớn hơn nhập.

Thứ ba, về lộ trình, chúng ta buộc phải giảm dần những nguồn nhiêu liệu phát thải khí nhà kính như than, xăng dầu và tăng dự trữ quốc gia đối với các nguồn nhiên liệu cạn kiệt, do vậy chúng ta sẽ phải có cơ chế chính sách và khuyến khích nhiều hơn đầu tư đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng tính trên giá trị sản phẩm đầu ra.

Thứ tư, cần có cơ chế chính sách khuyến khích sử dụng ngày càng chiếm tỷ trọng cao đối với nguồn năng lượng tái tạo, trước hết là năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, do đầu tư công nghệ và chi phí lớn, nên sản phẩm năng lượng đầu ra của các loại năng lượng và nhiên liệu này còn cao, nhà nước cần tiếp tục có chính sách trợ giá và giảm thuế để giảm gánh nặng cho các nhà đầu tư khai thác các dạng năng lượng tái tạo.

Thứ năm, nâng cao nhận thức đối với người dân trong việc sử dụng và tiết kiệm năng lượng, phải trở thành văn hóa và ý thức tự nguyện, thói quen giống như văn hóa người Nhật. Muốn làm được điều đó, hệ thống chính trị cần phải vào cuộc mạnh mẽ.

Thứ sáu, trong bối cảnh của thể chế kinh tế thị trường, cần phát huy tối đa công cụ kinh tế và cơ chế tài chính trong đầu tư, khai thác, và sử dụng các nguồn năng lượng hiệu quả và tiết kiệm, thêm vào đó là sử dụng các biện pháp điều hành và kiểm soát của Nhà nước, công cụ pháp luật cần được phát huy hiệu quả.

Thứ bảy, huy động nguồn lực đầu tư vào khai thác và sản xuất năng lượng theo nguyên lý thị trường, nhất là nguồn vốn nội lực. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Việt Nam không phải thuộc nhóm nước cắt giảm khí nhà kính, tuy nhiên chúng ta thực hiện theo định hướng chung của thế giới, chính vì vậy đây là cơ hội để chúng ta huy động nguồn vốn ngoại lực đầu tư vào khai thác các nguồn năng lượng tái tạo.

Kết luận

Tài nguyên nhiên liệu và năng lượng của Việt Nam đa dạng và có một số loại có tính cạnh tranh cao, nhất là nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và sinh khối. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong những năm tới, nhất là từ nay đến năm 2030 chúng ta đã có những kịch bản về tăng trưởng kinh tế và dự báo nhu cầu năng lượng, đặt trong bối cảnh thể chế kinh tế thị trường có tính cạnh tranh quyết liệt và thực thi hiệu quả chiến lược tăng trưởng xanh trong việc cắt giảm khí nhà kính, chúng ta cần phát huy mạnh mẽ công cụ thị trường và tiềm năng sẵn có, nhất là nguồn nội lực để có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước và tiến tới chúng ta có thể xuất khẩu những nguồn năng lượng chúng ta có thế mạnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tuyên giáo Trung ương. “Tài liệu nghiên cứu các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng” (Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên). NXBCTQG-Hà Nội 2011.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI). Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP). Dự án “tăng cường năng lực lồng ghép phát tiển bền vững và biến đổi khí hậu trong công tác lập kế hoạch”. Nghiên cứu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng giai đoạn 2011-2020. Báo cáo “Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030. Hỗ trợ xây dựng, thực hiện Chiến lược Quốc gia về TĂNG TRƯỞNG XANH”. Số đăng ký ĐKXB: 1287-2013/CXB/06-632/BĐ.

3. Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh. Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25 tháng 9 năm 2012.

4. Đảng Cộng Sản Việt Nam “Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI”. Văn phòng Trung ương Đảng. Hà Nội - 2013.

5. Đảng Cộng Sản Việt Nam “Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành trung ương khóa XI”. Văn phòng Trung ương Đảng. Hà Nội - 2013.

(1). Theo “Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025”, 2008.

TS. VÕ TRÍ THÀNH
Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Có lẽ đây là thời điểm mà Việt Nam phải xem xét lại toàn bộ Chiến lược phát triển năng lượng của mình. Nói như vậy không có nghĩa Chiến lược phát triển năng lượng năm 2007 đã lỗi thời, còn rất nhiều điểm tốt, nhưng rõ ràng chưa thể tính đến nhiều yếu tố mới về cách nhìn năng lượng hiện nay. Chỉ riêng cuộc khủng hoảng Ucraina cũng cho thấy, nếu nhìn dài ra thì sự đối đầu giữa Nga và phương Tây cũng cho thấy đều bắt đầu tư vấn đề năng lượng.

Như các bài tham luận vừa trình bày, theo cảm quan, cơ bản chỉ nhìn về phía cung, đâu đó có đặt vấn đề về phía cầu, phân phối. Cung - phân phối - tiêu thụ nếu nhìn tổng thể chỉ có vậy thì Chiến lược phát triển năng lượng năm 2007 vẫn chưa đạt yêu cầu. Chúng ta nhìn ngành năng lượng Việt Nam chỉ với PVN, TKV, EVN cũng đúng, nhưng vẫn chưa đủ.

Hiện nay từ vấn đề biến đối khí hậu mà nhiều quốc gia đang đặt ra 3 vấn đề không thể tách rời nhau, đó là năng lượng - nước - an sinh xã hội. Nhưng tại Việt Nam thì 40% cơ cấu điện là nước, thủy điện, chưa nói vấn đề biến đổi khi hậu. Cách nhìn này cũng chưa thật đầy đủ.

Trước đây, khi tiếp cận vấn đề năng lượng, có thể tính theo cách cho chạy một thời gian sau đó tìm hệ số co giãn. Hoặc so sánh mức tiêu trung bình 1kWh của mỗi người với các nước khác… để định ra chiến lược ở khâu phân phối tiêu thụ, tiêu dùng sản xuất kinh doanh. Cách nhìn như vậy là quá đơn giản. Nên nhìn khác đi về công nghệ mới, vào cách ứng xử nhu cầu, vào tương lai biến đổi khí hậu, nguồn nước, thực phẩm… thì đây là thời điểm quan trọng để Việt Nam thay đổi chiến lược phát triển ngành năng lượng.

Đặc trưng của ngành năng lượng đòi hỏi rất nhiều tiền. Việt Nam đang là nước nghèo, nhưng luôn phải đặt vấn đề an ninh năng lượng lên hàng đầu. Đây cũng là vấn đề lớn liên quan đến chiến lược. Ngành năng lượng không chỉ đơn thuần là điện, xăng dầu… trước cứ cho rằng, năng lượng không thể xuất nhập khẩu được, nhưng hiện nay chúng ta đang bắt đầu nhìn ra khu vực và thế giới. Và thực tế, khu vực Asean đang hình thành cơ chế mua bán lẫn nhau và Việt Nam cũng đang tham gia thị trường này.

Vấn đề cạnh tranh của ngành năng lượng nếu ở phân khúc khách nhau thì tính chất cũng khác nhau và nói chung cần có giới hạn. Không thể một công ty lập ống dẫn dầu chạy từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh, mà cần có sự tham gia của nhiều thành phần. Ngay như trong ngành điện, tuy là độc quyền tự nhiên nhưng vẫn phải cố gằng chia nhỏ trong lĩnh vực truyền tải, phân phối… mới có thể tạo ra được cạnh tranh ngành. Trong khi đó, cấu trúc của thị trường năng lượng của Việt Nam cơ bản là của doanh nghiệp nhà nước, có truyền thống và lịch sử, nặng tư duy nhà nước, đây cũng là đặc thù rất Việt Nam, nên khi xử lý cũng rất phức tạp. Khi nhìn vào cầu thì Việt Nam đang lãng phí nhất nhì thế giới. Chúng ta biết cứ 1 GDP thì mật độ năng lượng của chúng ta gấp đôi Thái Lan, gấp 3 Nhật Bản. Nếu chúng ta tiết kiệm được 1% thôi cũng đã rất khác.

Một vấn đề lớn liên qua đến cung - cầu năng lượng hiện nay chính là tăng trưởng xanh. Nhiều bài tham luận vừa qua chưa thấy đề cập đến mạng thông minh, sự thay thế lẫn nhau của các lĩnh vực trong năng lượng, xây dựng, tiêu dùng năng lượng thông minh… Nếu nhìn về khía cạnh tiêu dùng, thì khi sử dụng các thiết bị thông minh và phương án xanh hiệu quả tiết kiệm năng lượng rất lớn, trong khi đó vốn bỏ ra lại rất ít.

Với ý tưởng như vậy tôi có một số ý kiến chính sách ngắn gọn để có thể phát triển năng lượng Việt Nam như sau:

Đối với cầu, ngoài chiến lược tổng thể thì hành vi tiêu dùng cần được đề cập nhiều hơn nữa. Phải cương quyết cắt giảm trợ cấp đối với các lĩnh vực trong ngành năng lượng. Với những người nghèo, Chính phủ sẽ có hỗ trợ trực tiếp, điều này Việt Nam đang làm rất đúng. Ở đây gắn với cung, việc đẩy giá năng lượng lên, phân phối nội tại thì quá trình tạo ra giá nhất định sẽ bỏ được. Điều này sẽ tăng tính minh bạch và cạnh tranh cho thị trường đủ.

Còn bên cung, hiện nay cấu trúc năng lượng Việt Nam đang sai lệch rất nhiều so với các nước khu vực. Chúng ta nghĩ gì về vấn năng lượng tái tạo, về các nguồn năng lượng mời… Một khi cấu trúc thay đổi thì sẽ thay đổi ứng xử trong tiêu thụ năng lượng. Hai điều nay quan hệ qua lại với nhau.

Đối với vấn đề mở cửa thị trường, vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nâng các lĩnh vực được sử dụng hình thức PPP lên con số 13. Như ngành điện, chúng ta muốn đưa ra giá thị trường nhưng tiến độ chia thành 3 giai đoạn đến tận 2020. Theo tôi muốn đẩy giá điện ra thị trường chỉ có cách cắt giảm trợ cấp và cấu trúc thị trường cạnh tranh, nếu như kéo dài tận 10 năm nữa thì làm sao có tính cạnh tranh thị trường, có lẽ cần đẩy nhanh hơn nữa.

Cuối cùng, hãy nhìn điện như một ngành thương mại, có xuất có nhập. Một khi như vậy sẽ đạt được tính minh bạch cũng như cạnh tranh. Đây chính là nguồn lực để phân bổ hiệu quả hơn trong đầu tư, phát triển ngành điện. Khi đó, câu chuyện năng lượng khi nói đến không còn là những câu chuyện bức xúc, là những câu chuyện để chúng ta tồn tại, mà là câu chuyện để chúng ta phát triển.

PGS,TS. BÙI HUY PHÙNG
Chủ tịch Hội đồng Khoa học Năng lượng Việt Nam - VEA

Trước hết, nói về thị trường trong đó có thị trường năng lượng, là phải có người mua và người bán. Tuy nhiên, như lâu nay chúng ta chỉ mới nói đến người bán và hôm nay dự hội thảo này cũng chỉ là những người bán.

Người mua lâu nay không hề được trả giá. Đơn cử, tôi ví dụ như giá điện định tăng lên 2.000 đồng/kWh, nhưng người mua điện có được bàn bạc không? Rõ ràng, điều này là sai lầm của chúng ta trong thực hiện kinh tế thị trường. Chúng ta nói nhiều đến cơ chế, cấu trúc một người bán một người mua... nhưng thực tế người tiêu dùng hoàn toàn vắng bóng trong câu chuyện kinh tế thị trường. Cái này theo tôi hoàn toàn không ổn.

Thứ hai, nói đến thị trường tức là nói đến vấn đề giá. Giá là đòn bẩy của thị trường, là đòn bẩy của sản xuất của phát triển nhưng ai định giá. Hiện nay, trong khi giá xăng A 92 tại New York chỉ từ 80-85 cent/lít, nhưng vì sao tại Việt Nam giá bán 1,2 USD/lít, doanh nghiệp vẫn kêu lỗ? Tôi là người tiêu dùng tôi không hiểu được. Vấn đề ở đây chính là anh định giá như thế nào. Điều này đồng nghĩa với việc, giải quyết vấn đề giá năng lượng thì chúng ta phải làm bài toán quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng quốc gia. Từ đó, mới hoạch định ra cụ thể cho ngành điện, than, dầu khí như thế nào. Trong bài toán này, chúng ta sẽ xác định được chi phí biên của các loại nhiên liệu. Từ cơ sở này chúng ta giao cho cơ quan sản xuất hoặc kinh doanh, đã có phương pháp rồi sẽ làm định được giá. Từ đó sẽ thảo luận với người tiêu dùng để thống nhất giá, đôi bên cùng ngả giá.

Như giá điện hiện nay, cho dù Chính phủ cho phép mấy tháng điều chỉnh 1 lần nhưng người dân vẫn không hiểu vì sao phải tăng giả. Rõ ràng không hướng đến minh bạch, không có thị trường được. Kinh tế thị trường vắng bóng người tiêu dùng, vắng bóng cách xác định giá một cách minh bạch thì khó thành thị trường đúng nghĩa.

Vừa rồi, tôi được tham gia báo cáo cuối cùng về chính sách công mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Chính phủ Hàn Quốc. Tôi cũng hỏi rất rõ về quy hoạch năng lượng tổng thể của họ. Họ cho biết chỉ trong 10 năm họ làm 2 quy hoạch. Trên cơ sở đó, họ sẽ hoạch định giá, các định nguồn… thông qua các mục tiêu cụ thể, rõ ràng. Tôi nghĩ đây là điều chúng ta cần suy nghĩ sâu hơn và cần học tập để phát triển thị trường năng lượng Việt Nam.

ÔNG NGUYỄN VĂN THẠO, Trợ lý Chủ tịch nước

Tôi cho rằng, phát triển thị trường năng lượng theo đúng cơ chế thị trường đang là vấn đề lớn, bức xúc và rất cấp bách hiện nay. Sau 30 năm đổi mới, chuyển sang cơ chế thị trường, tuy đạt nhiều thành tựu nhưng vẫn còn không ít những khó khăn, vướng mắc. Mà như nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân là do chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường không đầy đủ, triệt để. Một trong những khó khăn chính là thị trường trường năng lượng. Đây cũng là một trong điểm tắc hiện nay, cần làm mạnh hơn nữa.

Hiện nay, dân kêu giá than, điện, xăng dầu tăng cao là không có căn cứ. Còn doanh nghiệp vẫn kêu làm đủ mọi thứ mà không được bán theo giá thành, kinh doanh lỗ. Ai kêu cũng có lý, nhưng không có chuẩn mực nào đầy đủ cho nên cuối cùng đất nước chịu thiệt, cản trở sự phát triển của đất nước.

Do vậy, còn nhiều việc phải làm, phải xử lý, cần giải quyết những vấn đề cụ thể. Xây dựng được thị trường đúng nghĩa thì tất cả những khó khắc, vướng mắc sẽ tự khắc phục. Nếu có định hướng đúng, chiến lược tốt thì trong quá trình vận hành, các khó khăn sẽ tự sửa. Thực tế cho thấy, một lãnh đạo cấp cao không thể xử lý cụ thể những công việc vụn vặt. Kinh nghiệm từ thời bao cấp, kế hoạch hóa cho thấy “đẻ” ra nhiều bộ như: Cơ khí, Luyện kim, Năng lượng, Công nghiệp nặng, Công nghiệp nhẹ… đi quản lý vi mô cũng không thể xử lý được.

Chuyển sang cơ chế thị trường là định hướng đúng, để phát triển thị trường năng lượng đúng nghĩa thì người dân cũng như doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi nhờ giá năng lượng sẽ xuống thấp. Do vậy, doanh nghiệp cần có định hướng phát triển. Có thể, hiện nay doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam là PVN nhưng thử nhìn ra các nước khu vực và thế giới, chúng ta đã bằng họ hay chưa? Hội nhập thì không phải so sánh ta với ta, hôm nay với hôm qua, mà phải so sánh với nước bạn, với thế giới để xem ta đang đứng ở đâu. Chuyển sang cơ chế thị trường trong đó có ngành năng lượng. Đây là điểm mấu chốt nhất cũng được đề cập trong chiến lược đổi mới thế chế hiện nay.

Nếu so với các ngành như dệt may, da giày… thì ngành năng lượng chuyển sang cơ chế thị trường khó hơn do tính đặc thù riêng về kinh tế kỹ. Ngoài ra, nguồn vốn cũng cần là rất lớn, trình độ khoa học kỹ thuật, đội ngũ cán bộ, lao động phải có tay nghề. Riêng với Việt Nam, có thêm đặc thù nữa, là từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp quay lại quản lý thị trường. Nếu như chúng ta phát triển theo con đường tự nhiên từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, tự cung tự cấp hàng hóa sang cơ chế thị trường trường… đi con đường như vậy dễ hơn nhiều. Ta thì lại hình thành các tập đoàn, tổng công ty lớn trong cơ chế quản lý tập trung cũ. Điều này cũng không hoàn toàn sai, nhưng trong giai đoạn lịch sử nào đó vẫn làm tốt vai trò của mình.

Biết rõ là khó, nhưng dứt khoát chúng ta phải làm. Trên thực tế, nguyên lý kinh tế thị trường không phải là vấn đề gì cao siêu lắm, để làm được điều đó phải chống độc quyền, tự do cạnh tranh bình đẳng, giá cả là hoàn toàn do thị trường định. Nếu có đặc thù đi chăng nữa thì có điều tiết của nhà nước.

Chuyển sang cơ chế thị trường là phải có giá cạnh tranh, khuyến khích tư nhân tham gia, mặt khác phải cổ phần hóa doanh nghiệp. Công cuộc cổ phần hóa chúng ta đã làm từ 20 năm nay nhưng 6.000 doanh nghiệp đã thực hiện đều là những doanh nghiệp nhỏ. Lúc này là giai đoạn để các “ông lớn” thực hiện cổ phần hóa, để cơ chế quản lý có thể chặt chẽ hơn. Đây cũng là bước đi tốt để chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường cho ngành năng lượng.

Theo tôi chủ đề hội thảo hôm nay vẫn rất rộng. Nếu có thể chúng ta phân nhỏ ra các thị trường cụ thể như: than, điện, dầu khí…mỗi lĩnh vực đều có đặc thù riêng, không thể giống nhau. Như lĩnh vực điện, có thể phần phát điện đi vào thị trường sớm hơn, nhanh hơn, nhưng truyền tải hoặc bán buôn, bán lẻ chưa chắc hình thành được thị trường…Do đó, theo tôi, mấu chốt vẫn là thể chế và quản lý kinh tế, mới có thể định hướng các ngành kinh tế đi vào thị trường đúng nghĩa trong đó có thị trường năng lượng Việt Nam.



TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 024.22113344 - Fax: 024.35147193
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn
Hotline: 0969998811 - 0969998822 - 0942632014 Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin & Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3