Dự báo

'Thần than' đồng bằng Sông Hồng có kịp 'chuyến tàu' công nghiệp hóa?

09:12 |22/09/2012

 - 

Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá X đã xác định Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020 là: Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững để đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Để đạt được mục tiêu Chiến lược nêu trên, nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng là hết sức quan trọng. Chính vì vậy các đề án Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia; Quy hoạch ngành Than giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030; Đồng thời các quy hoạch dầu - khí, năng lương tái tạo (NLTT)... đang được xây dựng.

PGS, TS Bùi Huy Phùng, Chủ tịch Hội đồng Khoa học - Hiệp hội Năng lượng Việt Nam

Nhu cầu năng lượng Việt Nam trong vài chục năm tới

Từ những định hướng chiến lược, các quy hoạch năng lượng và một số nghiên cứu liên quan cho thấy, nhu cầu năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới yêu cầu lớn và tăng nhanh. Một số kết quả dự báo được trình bày dưới đây.

Nhu cầu điện theo Quy hoạch điện VII đã được Chính phủ phê duyệt [1], được trình bày trong bảng 1.

Bảng 1. Dự báo phát triển nguồn điện và yêu cầu than cho nhiệt điện

Đơn vị

2015

2020

2025

2030

Tổng CS nguồn

MW

43.000

75.000

97.000

147.000

Tổng SXĐ

tỷ kWh

194-210

330-362

489-561

695-834

Trong đó NĐ Than:

Tổng CS

MW

15.000

32.000

45.000

77.000

SX điện

tỷ kWh

85

156

246

394

Tiêu thụ than

triệu tấn

32

78

118

171

Khả năng cung cấp

triệu tấn

28

36

61

63

(Theo QH Than-2012)

Nhu cầu than sử dụng trong nước, theo Quy hoạch ngành Than đã được Chính phủ phê duyệt 1-2012, [2], được trình bày trong bảng 2.

Bảng 2. Dự báo nhu cầu than sử dụng trong nước

Triệu tấn

Nhu cầu than

2012

2015

2020

2025

2030

PA cơ sở

PA cao

PA cơ sở

PA cao

PA cơ sở

PA cao

PA cơ sở

PA cao

PA cơ sở

PA cao

Tổng

32,9

33,7

56,2

60,7

112,4

120,3

145,5

177,5

220,3

270,1

Trong đó cho sản xuất điện

14,4

15,2

33,6

38,0

82,8

90,8

112,7

144,7

181,3

231,1

Kết quả dự báo từ đề tài: Nghiên cứu xây dựng phương án khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng Việt Nam [5,6], kết quả dự báo đồng thời các nguồn, tuy có thấp hơn dự báo từ các quy hoạch, nhưng yêu cầu cũng rất lớn, được trình bày trong bảng 3.

Với kết quả dự báo này (tính đổi gần đúng về kWh và tấn than tự nhiên), tổng nhu cầu điện năng vào 2020 khoảng 220 tỷ kWh, 2030 khoảng 448 tỷ kWh; tổng nhu cầu than nói chung tương ứng theo giai đoạn khoảng 80 triệu tấn và 150 - 160 triệu tấn.

Bảng 3. Dự báo nhu cầu năng lượng cuối cùng theo dạng năng lượng Việt Nam đến 2030.

Đơn vị: triệu TOE

Dạng năng lượng

2010

2015

2020

2025

2030

Than

6,32

8,45

11,82

14,57

18,11

Dầu

17,04

24,41

34,15

44,87

57,77

Khí

0,57

1,07

1,8

2,36

2,98

Điện (từ than, dầu, khí, thủy điện, NLTT, hạt nhân)

8,08

12,55

19,0

28,08

38,52

Biomass

13,94

14,02

14,02

14,0

14,0

Tổng NLCC

46,15

60,57

80,9

103,01

131,16

Ghi chú, TOE: tấn dầu quy đổi, 1TOE=10tr.Kcal

Tiềm năng và khả năng khai thác các nguồn năng lượng Việt Nam

1. Nguồn thủy điện

Tiềm năng kinh tế - kỹ thuật - môi trường về thuỷ điện được đánh giá khoảng 75 - 80 tỷ kWh, đến nay chúng ta đã khai thác khoảng 70% tiềm năng. Thủy điện trước đây đóng góp tới trên 70% điện sản xuất, nhưng năm 2010 tỷ trọng này chỉ còn chưa đầy 30%, dự kiến đến 2020 khoảng 20% và 2030 khoảng 10%.

Thuỷ điện là nguồn năng lượng tái tạo, tuy nhiên ngày nay khai thác thủy điện phải thận trọng về môi trường, môi sinh, phát triển bền vững. Hội thủy điện quốc tế đã đưa ra quan điểm chỉ xây dựng các “thủy điện bền vững”.

2. Nguồn than

Từ tài liệu quy hoạch ngành Than [2] cho thấy, tổng tài nguyên - trữ lượng than của nước ta, tính đến 1-1-2011 là 48,7 tỷ tấn, trong đó than đá 48,4 tỷ, than bùn 0,3 tỷ tấn. Tài nguyên và trữ lượng huy động vào quy hoạch là 7,2 tỷ tấn, trong đó than đá 7 tỷ và than bùn 0,2 tỷ tấn.

Nguồn than đồng bằng Sông Hồng, tuy được đánh giá có tiềm năng lớn, nhưng chưa thể đưa vào quy hoạch.

Theo quy hoạch, sản lượng khai thác than có thể đạt như sau:

Năm

Sản lượng (triệu tấn)

2012

45-47

2015

55-58

2020

60-65

2025

66-70

2030

75

Riêng bể than ĐBSH, Quy hoạch than 2012 có ghi: Lựa chọn một số diện tích chứa than có triển vọng, có điều kiện địa chất - mỏ thích hợp để tiến hành thăm dò trong kỳ kế hoạch 2012-2015 phục vụ việc đầu tư khai thác thử nghiệm vào cuối kế hoạch.

Trên cơ sở kết quả điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên phần đất liền bể than ĐBSH và kết quả triển khai một số dự án thử nghiệm, tiến hành thăm dò mở rộng để có cơ sở phát triển các mỏ than có quy mô công nghiệp với công nghệ phù hợp, phấn đấu đến 2030 hoàn thành công tác thăm dò phần diện tích chứa than có điều kiện khai thác thuận lợi thuộc vùng Khoái Châu - Tiền Hải. Phấn đấu đến 2020 có sản lượng 0,5-1 triệu tấn; 2025: 2 triệu; 2030: khoảng 10 triệu tấn.

3. Nguồn dầu - khí

Theo đánh giá của ngành Dầu khí [1,3], trữ lượng dầu - khí của Việt Nam có thể thu hồi là 3,8 - 4,2 tỷ tấn dầu quy đổi (TOE), trữ lượng đã được xác minh khoảng 1,05 - 1,14 tỷ TOE, trong đó khí đốt chiếm trên 60%.

Dự báo khả năng khai thác dầu - khí giai đoạn tới 2030, kể cả đầu tư ra nước ngoài như sau.

Năm

2010

2015

2020

2025

2030

Dầu thô PA cơ sở (triệu tấn)

19,86

20,0

20,7

21,7

22,0

Trong đó nội địa

19,16

17

16,3

16,2

16

Khí đốt tỷ (m3)

8

11

17

17

17

4. Nguồn năng lượng tái tạo (NLTT)

Việt Nam được đánh giá có tiềm năng NLTT lớn, tuy nhiên đến nay tài liệu, số liệu khảo sát, đo đạc còn thiếu và độ tin cậy thấp, về thể chế đã có quan tâm nhưng chưa đủ để khuyến khích đầu tư, phát triển sử dụng. Việc sử dụng năng lượng mặt trời để đun nước được đánh giá là bắt đầu có hiệu quả. Một số dự án điện gió như ở Ninh Thuận, Bạc Liêu… tuy giá thành điện còn khá cao, nhưng bước đầu đã phát huy tác dụng.

Theo QHĐVII dự kiến đưa tỷ lệ NLTT trong sản xuất điện đạt 4,5% vào năm 2020 và 6% vào 2030. Như vậy, tương ứng phải đạt 16 tỷ kWh (6 - 7 nghìn MW) và 42 - 45 tỷ kWh (15 - 20 nghìn MW). Về mong muốn và tính thời đại tỷ lệ này là còn thấp, nhưng đối với chúng ta đã là một thách thức, phải nỗ lực từ khảo sát, quy hoạch, lựa chọn công nghệ thích hợp, đầu tư và nội địa hoá dần mới có thể đạt được.

Các nguồn NLTT khác như: địa nhiệt, thuỷ triều, sóng biển... quy mô nhỏ và còn đắt đỏ.

5. Sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm

Đây là khâu cực kỳ quan trọng, nó được đánh giá là tạo ra nguồn năng lượng giá rẻ, là quốc sách thâm canh trong năng lượng. Tiến trình phát triển kinh tế và năng lượng đã có hiệu ứng “tách đôi” diễn ra từ những năm 50 của thế kỷ trước ở các nước công nghiệp phát triển, đó là hiện tượng tốc độ tăng trưởng năng lượng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động quản lý và tiết kiệm năng lượng chỉ làm giảm tối đa nhu cầu tăng năng lượng.

Nhận xét

Một là, Ngành năng lượng có tính hệ thống rất cao, sản phẩm đầu vào của phân ngành này là đầu ra của phân ngành kia, cần sự phối hợp hài hoà, nhưng hiện nay chúng ta đang thiếu một quy hoạch tổng thể về năng lượng. Các quy hoạch phân ngành điện, than, dầu - khí, NLTT... thực hiện riêng lẻ nên thiếu hài hoà, đồng bộ về khối lượng, vốn đầu tư và cả về thời gian quy hoạch, Quy hoạch than ra sau Quy hoạch điện, còn Quy hoạch dầu - khí, NLTT thì chưa có. Các kết quả dự báo về nhu cầu, khả năng đáp ứng còn chênh lệch nhiều.

Hai là, Kết quả dự báo nhu cầu năng lượng tuy còn chênh lệch, cần hiệu chỉnh, nhưng dù ở mức cao hay thấp thì khả năng các nguồn năng lượng trong nước theo những đánh giá và dự báo hiện nay khó có thể đáp ứng được yêu cầu. Đặc biệt là nhu cầu than cho sản xuất điện, theo QHĐVII và QHNT có khả năng thiếu sớm và khối lượng lớn, giai đoạn 2015 thiếu 4 - 5 triệu tấn, năm 2020 phương án cơ sở thiếu 40 triệu tấn, phương án cao thiếu 54 triệu tấn; năm 2025 tương ứng thiếu 57 và 84 triệu tấn; năm 2030 tương ứng thiéu 108 - 200 triệu tấn.

Ba là, Việc tìm kiếm bổ sung nguồn năng lượng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết. Như đã trình bày trên, các nguồn năng lượng trong nước đều có những hạn chế, việc nhập than, thực tế vừa qua cho thấy không dễ và còn có thể ảnh hưởng tới an ninh năng lượng. Chúng ta có bể than ĐBSH, cần nhanh chóng làm rõ khả năng đóng góp của than ĐBSH vào sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước.

Than đồng bằng Sông Hồng

Bể than đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) được biết đến khoảng nửa thế kỷ nay. Từ những đánh giá địa chất, khoan thăm dò dầu mỏ, đã có dự báo, đồng bằng Sông Hồng có tiềm năng than rất lớn, tới vài trăm tỷ tấn. Thời gian qua, Nhà nước, Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), đã quan tâm tổ chức nghiên cứu, đánh giá làm rõ tiềm năng và khả năng khai thác bể than này.

Công nghệ khí hoá than trong lòng đất đã được sử dụng hiệu quả ở một số nước như: Nga, Úc, Anh... Vinacomin cũng đã cử cán bộ tham quan, khảo sát, học tập ở nước ngoài.

Từ những nghiên cứu địa chất và khoan thăm dò trên 200 lỗ khoan, tập trung ở vùng Khoái Châu - Tiền Hải, có điện tích khoảng 1.500 km2 thuộc ba tỉnh: Hưng Yên, Thái Bình và Nam Định; tiếp theo đã tiến hành đánh giá lại, cho thấy [4]:

- Về tiềm năng, với những hiểu biết hiện nay cho kết luận vùng ĐBSH chắc chắn có than, được dự báo là 86 tỷ tấn, trong đó vùng Khoái Châu 1,6 tỷ; vùng Phù Cừ - Tiền Hải 84,4 tỷ tấn.

Tuy nhiên, phải giữ lại để bảo vệ mặt đất, mạch nước ngầm: 10,3 tỷ tấn; phần chưa thể và không thể khai thác đuợc là 45,7 tỷ tấn.

Như vậy than có thể quy hoạch thăm dò là 30 tỷ tấn, than có thể quy hoạch khai thác là 20 tỷ tấn; tiềm năng than có thể khai thác bằng công nghệ khí hoá than trong lòng đất (UCG) là 10 tỷ tấn; bằng công nghệ hầm lò truyền thống (UCM) là 3 tỷ tấn. Sản lượng khai thac có thể đạt khoảng 100 triệu tấn/năm.

- Về chất lượng than, qua phân tích hàng trăm mẫu than [4], cho kết quả trung bình với các thông số chính: nhiệt trị thấp khoảng 6.000Kcal/kg, chất bốc 40%, lưu huỳnh dưới 1%. Chất lượng than này rất phù hợp với các nhà máy nhiệt điện.

- Về giá thành than khai thác, tuỳ thuộc vào quy mô và công nghệ sử dụng, theo sơ tính bước đầu của Ban quản lý các dự án than ĐBSH, trường hợp khai thác than theo công nghệ khí hoá trong lòng đất và sử dụng công nghệ chu trình kết hợp để phát điện (IGCC), với công suất khoảng 300MW, thì giá điện khoảng 50 USD/MWh; trường hợp sử dụng khí than khai thác được và chế biến thành dầu diesel sẽ có giá khoảng 35-40USD/thùng.

- Về công nghệ khai thác và đảm bảo môi trường môi sinh.

Công nghệ khai thác than hầm lò là công nghệ truyền thống. Công nghệ khí hoá than trong lòng đất đã được sử dụng hiệu quả ở một số nước như: Nga, Úc, Anh... Vinacomin cũng đã cử một số đoàn cán bộ tham quan, khảo sát, học tập ở nước ngoài. Vấn đề quan trọng là các công nghệ này được sử dụng vào ĐBSH, nơi địa chất phức tạp, nước ngầm lớn, dân cư đông đúc và là vựa lúa của cả nước như thế nào? Các nội dung này cần được tiếp tục nghiên cứu cẩn trọng.

- Hiện nay, Đề án Điều tra đánh giá tổng thể với kinh phí dự kiến 1.320 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước và Dự án thử nghiệm công nghệ kinh phí 130 tỷ đồng từ vốn doanh nghiệp [3,4] đang được đề nghị…

Tuy nhiên đến nay, các dự án còn gặp nhiều khó cả về kinh phí, chính sách, thủ tục. Ý kiến còn chưa thống nhất giữa việc xây dựng quy hoạch tổng thể trước, hay thực hiện đề án khai thác thử nghiệm trước.

Tháng 7-2012, chúng tôi có dịp thăm Ban quản lý các dự án than ĐBSH tại Hưng Yên và địa bàn có than ở Khoái Châu, ngoài hơn ba chục anh chị em cán bộ trẻ với tinh thần rất hăng hái ra thì cơ sở vật chất chưa có gì.

Một số kiến nghị

Để “Thần than” đồng bằng Sông Hồng bắt kịp “chuyến tàu” công nghiệp hoá đất nước, chúng tôi đề nghị.

1. Để có điều kiện, tư liệu khoa học cho Quy hoạch tổng thể bể than ĐBSH và lựa chọn công nghệ, quy mô khai thác thích hợp, đánh giá ảnh hưởng môi trường, chúng tôi ủng hộ ý kiến thực hiện trước Dự án khai thác thử nghiệm.

2. Đề nghị Vinacomin khẩn trương cho thăm dò, đánh giá kỹ vùng dự kiến thử nghiệm, rà soát dự án thử nghiệm, mới có thể đạt được tiến độ ghi trong quy hoạch.

3. Dự án khai thác thử nghiệm than ĐBSH, mang tính thăm dò tìm kiếm, đề nghị Chính phủ hỗ trợ kinh phí, Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét cấp phép.

NangluongVietnam.vn

Tài liệu tham khảo

1. QHĐ VII, 7-2011.

2. QH phát triển ngành Than Việt Nam, 1-2012.

3. Dự thảo QHPT ngành Dầu - khí giai đoạn 2006-2015 định hướng đến 2025, Hà Nội 2007.

4. Nguyễn Thành Sơn - Công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng than đồng bằng Sông Hồng - TC Năng lượng nhiệt số 105 tháng 5-2012.

5. Bùi Huy Phùng và CS. Nghiên cứu phương án tổng thể khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng VN, BCĐT thuộc CTKH&CN trọng điểm. Bộ CN, GĐ 2001-2005-Viện KH&CN VN, 8-2005.

6. Bùi Huy Phùng - Năng lượng Việt nam đến 2030 và tầm nhìn đến 2050, BC HT Phát triển Năng lượng Quốc gia, Hà Nội 5-2008.



®   Khi đăng lại tin, bài, hay trích dẫn số liệu phải ghi rõ nguồn: TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM và dẫn link tới bài gốc trên NangluongVietnam.vn

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3