Dự báo

Ngành năng lượng Ấn Độ chọn hướng đi nào sau sự cố mất điện?

08:29 |05/10/2012

 - Cuối tháng 7/2012, Ấn Độ đã trải qua một sự cố mất điện lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Hơn một nửa dân số của quốc gia đông dân thứ 2 thế giới này “phải sống trong cảnh tối tăm” do mất điện. Sau sự cố mất điện tại Ấn Độ, cả thế giới dường như hoài nghi về “hình ảnh Ấn Độ - một siêu cường kinh tế lẫn quân sự”. Đáp trả lại những hoài nghi trên, Ấn Độ tuyên bố sẽ mở ra một hướng đi mới cho ngành năng lượng toàn cầu thông qua việc tiên phong trong lĩnh vực phát triển một nguồn năng lượng hạt nhân mới từ Thorium... NangluongVietnam xin giới thiệu bài viết do đội ngũ biên tập viên của trang web chuyên phân tích tình hình kinh tế toàn cầu Economywatch.com, tổng hợp và phân tích về diễn biến của sự cố mất điện tại Ấn Độ và hướng đi phát triển mới của ngành năng lượng Ấn Độ trong tương lai.

 
Hơn nửa dân số Ấn Độ phải sống trong cảnh tối tăm do mất điện

Sự cố mất điện toàn quốc tại Ấn Độ

Cuối tháng 7 năm 2012, Ấn Độ đã hứng chịu một đợt mất điện trên khắp đất nước trong 2 ngày liên tiếp, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế cũng như đời sống người dân tại quốc gia này.

Ngày 30/7, gần 300 triệu người dân Ân Độ “phải sống trong cảnh tối tăm và oi ả” do mất điện. Nguyên nhân chính được cho là 3 trong số 5 mạng lưới điện toàn quốc của Ấn Độ bị hỏng do quá tải.

Trong khi người dân đang hoảng loạn vì mất điện, thì chính quyền New Delhi lại phản ứng tương đối “chậm chạp”, các biện pháp “chữa cháy” tỏ ra không mấy hiệu quả. Hậu quả là vào ngày hôm sau, ngày 31/7, tình trạng mất điện không những không được kiểm soát mà còn tiếp tục lan rộng, 20 trong tổng số 28 bang, gồm cả thủ đô New Delhi bị mất điện.

Ước tính đến ngày 31/7, hơn một nửa dân số của Ấn Độ (620 triệu người) “phải sống trong bóng tối”.

Trong suốt hai ngày của sự cố mất điện toàn quốc, các mạng lưới điện bị hỏng liên tiếp khiến ngành điện lực Ấn Độ xoay sở không kịp.

Sự cố mất điện tại Ấn Độ xét về quy mô và tầm ảnh hưởng có thế coi là một sự cố tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại, đặc biệt đặt trong bối cảnh Ấn Độ dù chỉ là một nền kinh tế mới nổi, nhưng lại được cả thế giới nể trọng như “siêu cường về kinh tế và quân sự”, một đối thủ đáng gờm của “người khổng lồ Trung Quốc”.

Dư âm của vụ việc đã khiến truyền thông và người dân Ấn Độ đặt một câu hỏi lớn cho khả năng quản lý của ngành điện lực tại quốc gia này, và chất lượng các linh kiện điện tử mà chính quyền New Delhi sử dụng để lắp đặt các mạng lưới điện quốc gia.

Sự cố mất điện xuất phát từ yếu kém của ngành điện năng Ấn Độ hay đơn giản là do Ấn Độ đang thiếu điện trầm trọng?

Hai sự cố mất điện toàn quốc tại Ấn Độ vào ngày 30 tháng 7 và ngày mùng 1 tháng 8, đã hé lộ một sự thật rằng, Ấn Độ hiện tại đang không đủ khả năng để cung cấp đầy đủ điện trong nước, an ninh năng lượng tại quốc gia này đang suy yếu trầm trọng.

Để hiểu rõ hơn về ngành điện năng Ấn Độ, trước tiên cần phải so sánh với mô hình ngành điện năng tại các quốc gia phát triển trên thế giới.

Lấy tình huống tương tự xảy ra tại một quốc gia có khả năng tự chủ về an ninh năng lượng tốt như Mỹ hoặc Nhật Bản, thì khi nhu cầu điện năng trong nước tăng đột biến, các quốc gia này sẽ có ngay những biện pháp sử dụng các nguồn điện dự phòng; hoặc điều chỉnh, bù đắp lượng điện từ những bang, vùng miền khác có nhu cầu sử dụng điện ít hơn.

Hàng năm, chính phủ các quốc gia này đều phải tính toán lại chính xác nhu cầu sử dụng điện năng trong nước, rồi lên kế hoạch xây mới, nâng cấp lại hệ thống lưới điện quốc gia, nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng điện năng hàng ngày trong nước và ứng phó hiệu quả khi nguồn cầu điện tăng đột biến.

Chính nhờ những tính toán hiệu quả trên mà mỗi khi nhận thấy nguồn cầu điện đang tăng vượt mức cung ứng. Chính phủ Mỹ hoặc Nhật sẽ ngay lập tức lên kế hoạch phân phối điện năng một cách hợp lý, sau đó tính toán cắt điện ở một vài khu dân cư rải rác khắp đất nước hoặc tại từng bang và từng khu vực.

Tất nhiên, khi cắt điện chính phủ các quốc gia này đều lên kế hoạch rất chi tiết và thông báo sớm cho người dân.

Trở lại với sự cố mất điện toàn quốc tại Ấn Độ, quy mô của sự cố mất điện đã không chỉ nằm ở mức “quản lý phân phối điện yếu kém” của chính phủ nữa. Đây chỉ là một yếu tổ nhỏ, còn lý do chính giải thích cho sự cố mất điện tại Ấn Độ là “siêu cường Ấn Độ đang thiếu điện trầm trọng”.

Chính quyền Ấn Độ không thể cung cấp đầy đủ điện cho nhu cầu tiêu thụ điện của người dân trong nước

Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là, chẳng lẽ chính quyền New Delhi lại không đủ tỉnh táo để nhận thức đầy đủ được tình trạng thiếu điện của nước nhà?

Và ngành điện lực Ấn Độ đã làm gì mà lại khiến cho hai sự cố mất điện trầm trọng khắp toàn quốc như vậy lại có thể xảy ra?

Ngành điện lực Ấn Độ đã làm gì để đối phó với “nạn mất điện”?

Sẽ là “oan” khi quy kết tội vô trách nhiệm hay thiếu quan tâm đến ngành điện lực trong nước cho chính quyền New Delhi.

Ngay từ năm 1951, hơn 6 thập kỷ về trước, chính quyền ông Jawaharlal Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ đã bắt đầu quan tâm đến ngành điện năng trong nước, thông qua việc nỗ lực nâng cấp, phát huy hệ thống lưới điện cũ do Đế quốc Anh xây dựng, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện năng trong nước.

Như vậy, ngay từ ngày đầu mới thành lập, chính quyền Ấn Độ đã rất chú trọng đến ngành điện lực trong nước, cho dù hầu hết những nỗ lực của chính quyền New Delhi lúc bấy giờ đều “không hoàn thành chỉ tiêu đã đề ra”.

Những năm sau đó, các thế hệ chính quyền mới của New Delhi lên cầm quyền, nhưng quốc gia này vẫn chưa bao giờ xao lãng “công cuộc chiến đấu với nạn thiếu điện”. Tuy nhiên, chiến tranh, xung đột chính trị và tôn giáo, tệ nạn quan liêu, trì trệ, nhà nước độc quyền ngành công nghiệp năng lượng lại thiếu liên kết chặt chẽ giữa chính quyền với địa phương, ý thức người dân kém … Tất cả như đồng thời kết hợp lại và làm sói mòn những nỗ lực phát triển ngành điện lực của chính quyền Ấn Độ trong một thời gian dài, kể từ khi chính quyền ông Jawaharlal Nehru khởi xướng từ những năm đầu của thập niên 1950.

                                           

Ấn Độ đã quan tâm phát triển ngành điện lực quốc gia ngay từ thời tổng thống Jawaharlal Nehru

Thật là mỉa mai khi phải đưa ra nhận định rằng “không hoàn thành chỉ tiêu” vốn là truyền thống của ngành điện lực Ấn Độ. 

Phóng viên Ranjan Roy, đang làm việc tại Nhật báo Ấn Độ cho biết, sự cố mất điện tại Ấn Độ vừa qua đã khiến chính quyền New Delhi phải đặt tình trạng an ninh đất nước vào mức báo động quốc gia.

Ông cũng nhận định, sự cố mất điện tại Ấn Độ không chỉ là thất bại của ngành điện lực, đây còn là thất bại của cả chính quyền New Delhi khi đã không thể đối phó hiệu quả khi sự cố mất điện đột ngột xảy ra.

Chính quyền New Delhi đã trả lời dư luận ra sao về sự cố mất điện?

Theo như báo cáo của trang web tài chính Bloomberg, Ấn Độ có truyền thống luôn không hoàn thành chỉ tiêu quốc gia về cung ứng điện năng trong nước từ năm 1951. Năm này qua năm khác, hệ quả là tính cho đến thời điểm từ năm 2010 đến năm 2011, Ấn Độ thiếu khoảng 8,5% lượng điện cung ứng toàn quốc.

Tuy nhiên, trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng, chính quyền New Delhi lại luôn ra tuyên bố rằng, sẽ quan tâm hơn nữa đến ngành điện lực quốc gia. Nhưng qua sự cố mất điện vừa qua, thì có lẽ giới chức cao cấp New Dehli cần nghiêm túc xem xét lại cách “quan tâm của mình”.

Ông Chandrajit Banerjee, chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ, đã tuyên bố với Nhật báo Arabnews, ẢRậpXêÚt rằng, sự cố mất điện cuối tháng 7/2012 tại Ấn Độ đã gây thiệt hại hàng trăm triệu Mỹ kim cho Ấn Độ. Nhưng những mất mát này chẳng là gì, khi so với những thử thách khủng khiếp mà người dân Ấn Độ đã từng phải đối mặt trong quá khứ.

Ông cũng biện minh thêm rằng, Ấn Độ là một nền kinh tế mới nổi của thế giới, là mái nhà cho 1/6 dân số của thế giới. Chính quyền cùng các doanh nghiệp Ấn Độ đã phải nỗ lực rất nhiều, để phát triển cơ sở hạ tầng theo kịp với nhu cầu của người dân.

Chính quyền New Delhi thì quả quyết rằng, họ đã làm hết sức mình có thể. Trong bản báo cáo của Thời báo Kinh tế Ấn Độ, giới chức Ấn Độ đã đổ lỗi cho chính quyền địa phương 3 bang: Punjab, Haryana và Uttar Pradesh.

Trong tháng 6 và tháng 7, ba bang này đã sử dụng vượt mức điện cung ứng cho phép và sau đó tiếp tục bòn rút thêm điện từ lưới điện quốc gia. Kết quả là hệ thống lưới điện quốc gia bị quá tải dẫn đến hỏng hóc trên diện rộng.

Ông Sushil Kumar Shinde, bộ trưởng Bộ Năng lượng Ấn Độ nhấn mạnh rằng, các ý kiến chỉ trích về tốc độc phản ứng của chính quyền là thiếu cơ sở. Theo ông, chỉ trong 2 ngày, chính quyền New Delhi đã khắc phục được sự cố hỏng hóc từ 3 trong số 5 mạng lưới điện quốc gia khắp Ấn Độ. Đây thật sự là “một thành tích đáng nể” của ngành điện lực Ấn Độ.

Thử so sánh với nước Mỹ, năm 2008, quốc gia này từng trải qua một sự cố mất điện trên diện rộng và người Mỹ đã phải mất tận 4 ngày để khắc phục sự cố đó.

Không hề phủ nhận những nỗ lực to lớn của ngành điện lực Ấn Độ khi đối phó với đợt mất điện cuối tháng 7 vừa qua. Nhưng so sánh của ông Sushil Kumar Shinde là tương đối khập khiễng, vì năm 2008, nước Mỹ từng phải hứng chịu một trận siêu bão tràn qua thành phố Houston của bang Texas, gần 90% hệ thống lưới điện tại thành phố này bị tê liệt. Giới chức thành phố Houston đã phải mất 4 ngày, không chỉ để sửa hệ thống lưới điện của thành phố, mà còn khắc phục những tổn thất nghiệm trọng khác về cơ sở hạ tầng mà cơn siêu bão gây ra.

Nhằm trấn an dư luận trong nước, ngày 22/8/2012, chính quyền New Delhi ra tuyên bố sẽ giải ngân khoảng tiền 35 tỷ Mỹ kim, nhằm phát triển mạnh mẽ hơn nữa ngành năng lượng trong nước.

Với khoản đầu tư khổng lồ này thì ngành điện lực nói riêng và ngành năng lượng nói chung của Ấn Độ hứa hẹn sẽ được tiếp thêm một nguồn sinh khí mới, nhằm giải quyết dứt điểm nỗi ám ảnh về mất và thiếu điện trong tương lai.

Thorium - con át chủ bài của ngành năng lượng Ấn Độ?

Thorium và Uranium

Tạp chí Forbes, tạp chí lâu đời nhất của Mỹ từng đưa ra nhận xét, “việc Thorium được đưa vào bảng tuần hoàn nguyên tố vào thế kỷ 19, có thể coi như một bước đột phá lớn nhất về năng lượng của nhân loại kể từ thời loài người phát hiện ra lửa.”

Công ty chuyên cung cấp thông tin trong ngành năng lượng xanh của Mỹ, Greentech thì đưa ra nhận định, nguyên liệu Thorium hứa hẹn sẽ thay thế Uranium trong tương lai. Vì trữ lượng Thorium dồi dào, hiệu suất sản xuất năng lượng cao và an toàn hơn hẳn so với Uranium.

Dù trữ lượng của Thorium trên bề mặt trái đất chỉ nhiều hơn gấp 3 lần so với trữ lượng Uranium, nhưng qua phân tích kết cấu của Thorium, các nhà khoa học nhận thấy, mật độ của Thorium lại cao gấp 200 lần so với Uranium - một số liệu cực kỳ có ý nghĩa.

Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là, với các ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với Uranium như vậy, thì tại sao nhân loại lại chọn phát triển năng lượng hạt nhân từ Uranium thay vì Thorium?

Tại sao loài người lại chọn Uranium?

Giải thích về vấn đề này, ông Marin Katusa, chuyên gia đầu tư người Mỹ đã từng có một bài viết trên tạp chí Forbes. Ông cho rằng, muốn trả lời thấu đáo cho câu hỏi trên, trước tiên cần đưa mọi người ngược lại với thời kỳ đầu, khi nhân loại mới bắt đầu tiếp cận với cụm từ “năng lượng hạt nhân”.

Thời điểm loài người bắt đầu có những thử nghiệm đầu tiên nghiên cứu năng lượng hạt nhân, cũng là lúc chiến tranh thế giới thứ 1 vừa kết thúc và chiến tranh thế giới thứ 2 đang sắp bùng nổ.

Chính vì nguyên nhân trên mà mục đích ban đầu khi loài người nghiên cứu năng lượng hạt nhân không phải là “tìm một nguồn năng lượng mới” mà chỉ đơn giản là họ đang muốn tạo ra một thứ “siêu vũ khí”.

Đức Quốc xã và Mỹ ban đầu nghiên cứu năng lượng hạt nhân với mục đích “hủy diệt”

Hệ quả là, khi phải lựa chọn giữa Uranium và Thorium, người ta nhận thấy rằng Uranium có các ưu thế vượt trội hơn hẳn để chế tạo vũ khí so với Thorium. Với kết cấu không ổn định, dễ dàng giải phóng một nguồn năng lượng khổng lồ trong quá trình phân hạch, Uranium đã được loài người lựa chọn để phát triển thành một “loại bom có sức công phá khủng khiếp” trong lịch sử toàn cầu.

Dự án Manhattan trong giai đoạn 1942 - 1946, trị giá 2 tỷ Mỹ kim, được Mỹ và Đồng minh nghiên cứu đã đánh dấu bước tiến đầu tiên của nhân loại trong lịch sử phát triển vũ khí hạt nhân. Sau thành công của dự án Manhattan, Mỹ và đồng minh mới bắt đầu thúc đẩy kế hoạch nghiên cứu việc sử dụng năng lượng hạt nhân phục vụ cho mục đích dân sự thông qua kế hoạch xây dựng các lò phản ứng hạt nhân thế hệ đầu tiên.

Thời điểm khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Uranium và Plutonium được truyền thông thế giới thường xuyên nhắc đến như là những nguồn nhiên liệu “thần kỳ” để chế tạo những “loại bom có sức tàn phá khủng khiếp nhất mà nhân loại từng được biết đến”. Tuy nhiên, lại không mấy ai quan tâm đến Thorium.

Hàng thập kỷ sau, khi mà thế giới đã quá mệt mỏi với những thông tin, nghiên cứu, đánh giá … về hậu quả và những thảm họa do ứng dụng năng lượng hạt nhân từ Uranium gây ra, thì loài người mới bắt đầu để mắt quan tâm hơn đến Thorium - một nguồn năng lượng hạt nhân an toàn hơn nhiều so với Uranium.

Ấn Độ và giấc mơ Thorium

Không chỉ có Ấn Độ mới quan tâm đến phát triển năng lượng hạt nhân từ Thorium, Trung Quốc cũng từng công bố kế hoạch sẽ phát triển một lò phản ứng hạt nhân sử dụng nhiên liệu Thorium.

Đáng kể hơn là Mỹ, Anh, Canada, Đức và Hà Lan, các quốc gia này đã đi vào thực tế với các dự án cải tạo các lò phản ứng hạt nhân sẵn có nhằm thí nghiệm sử dụng Thorium thay thế cho Uranium.

Tuy nhiên, những khó khăn bước đầu khi nghiên cứu Thorium đã khiến những thành quả đạt được của hầu hết các cường quốc, đều rất khiêm tốn.

Mặc dù Uranium và Thorium cùng là năng lượng hạt nhân, nhưng phần lớn kinh nhiệm, kiến thức của nhân loại về Uranium lại không thể áp dụng lên nghiên cứu Thorium. Việc nghiên cứu Thorium cần phải được thực hiện một cách bài bản và bắt đầu lại từ những bước đầu.

Tính đến thời điểm hiện tại, thì dự án phát triển năng lượng hạt nhân từ Thorium của Ấn Độ vẫn là hứa hẹn nhiều triển vọng nhất.

Nhà vật lý thiên tài của Ấn Độ, ông Homi Bhabha đã từng thai nghén kế hoạch phát triển lò phản ứng Thorium từ hơn 60 năm trước

Ấn Độ có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển năng lượng hạt nhân từ Thorium. Trữ lượng Thorium của quốc gia này rất dồi dào, chiếm 25 -30% tổng trữ lượng Thorium toàn cầu.

Và kế hoạch phát triển năng lượng hạt nhân từ Thorium thì không phải bây giờ Ấn Độ mới có. Trong thập niên 1950, Homi Bhabha, nhà vật lý học thiên tài và Chủ tịch Ủy ban năng lượng hạt nhân đầu tiên của Ấn Độ đã thai nghén kế hoạch phát triển ngành năng lượng hạt nhân của nước nhà, thông qua lợi thế về trữ lượng Thorium dồi dào.

Theo nhận định của trang mạng chuyên nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, Phys.org thì, Ấn Độ đang rất nóng lòng muốn tìm ra một nguồn cung năng lượng mới và dồi dào. Kinh tế Ấn Độ đang tăng trưởng nóng với khoảng 8% mỗi năm, trong khi vẫn còn gần 40% dân số quốc gia này chưa được sử dụng điện thường xuyên.

Trước đây, các phản ứng thử nghiệm năng lượng hạt nhân tại Ấn Độ luôn được Mỹ và các đồng minh theo dõi gắt gao kể từ sau năm 1974, thời điểm này Mỹ từng quyết định áp đặt lệnh cấm vận lên Ấn Độ sau vụ thử nghiệm bom nguyên tử đầu tiên tại quốc gia này.

Tuy nhiên hiện nay, cộng đồng quốc tế và đặc biệt là ngành năng lượng quốc tế đều rất mong muốn Ấn Độ sẽ sớm xây dựng thành công các lò phản ứng Thorium. Bởi nếu điều này trở thành sự thật, thì đây sẽ không chỉ là tin vui với riêng Ấn Độ, mà nó sẽ mở ra cả một thời đại phát triển mới cho ngành năng lượng hạt nhân toàn cầu.

Vậy Ấn Độ đã chuẩn bị những gì?

Ông R K Shnha, chủ tịch Ủy ban năng lượng hạt nhân Ấn Độ tin rằng, quốc gia này có đủ nội lực để hoàn thành kế hoạch mà ông Bhaba đã phác thảo ra từ 60 năm trước.

Ông Sinha cho biết thêm, “các nhà khoa học tại quốc gia này đã nghiên cứu và phát triển rất kỹ công nghệ Lò phản ứng Nước nặng Tiên tiến (AHWR), đây là cơ sở kỹ thuật cho việc xây dựng các lò phản ứng hạt nhân thế hệ mới sử dụng nhiên liệu Thorium”.

Mô hình lò phản ứng Thorium của Ấn Độ


Ước tính, Ấn Độ phải mất 6 tháng để tìm được địa điểm phù hợp xây dựng lò phản ứng Thorium. Ngoài ra, sau khi đã tìm được địa điểm phù hợp, quốc gia này sẽ phải mất thêm 18 tháng nữa để đánh giá ảnh hưởng của lò phản ứng Thorium lên môi trường xung quanh.

Theo nhật báo Deccan Herald, Ấn Độ, thì lò phản ứng Thorium có khả năng sẽ được xây dựng ở một trong hai vùng là, Tarapur ở bang Maharashtra hoặc Kudankulam ở bang Tamil Nadu.

Giai đoạn đầu, lò phản ứng Thorium sẽ cần tới 52 tấn nhiên liệu Thorium để khởi động, tuy nhiên sau đấy sẽ chỉ cần 4,7 tấn mỗi năm để duy trì hoạt động. Điều này đồng nghĩa với việc Ấn Độ có thể sử dụng tiết kiệm trữ lượng Thorium của quốc gia này trong hàng trăm năm tới.

Ông Sinha đưa ra nhận định, một khi Ấn Độ thành công trong việc xây dựng các lò phản ứng Thorium, thì quốc gia này sẽ xuất khẩu công nghệ sang xây dựng các lò phản ứng hạt nhân tương tự tại Trung Đông và Bắc Á.

Rất nhiều quốc gia trên thế giới đang sở hữu những hệ thống lưới điện nhỏ với công suất 5.000 MW. Một lò phản ứng hạt nhân công suất 300 MW sẽ là lý tưởng với các quốc gia này.

Và Ấn Độ thì vốn nổi tiếng là quốc gia xuất khẩu các sản phẩm công nghệ giá rẻ, từ “hệ thống máy móc sản xuất, ô tô, điện thoại …” và bây giờ là đến lượt các lò phản ứng hạt nhân Thorium đời mới với nguyên tắc “nhỏ hơn, rẻ hơn và cạnh tranh hơn.”

Giá cả xây dựng các lò phản ứng Thorium có thể coi là một lợi thế của ngành năng lượng hạt nhân Ấn Độ. Khi mà quốc gia này đã và đang tốn một khoản tiền khổng lồ để nghiên cứu công nghệ hạt nhân Thorium, nếu giá cả xây dựng các lò phản ứng hạt nhân Thorium rẻ, sẽ là cực kỳ có ý nghĩa đối với ngân sách quốc gia này.

Hiện nay, năng lượng hạt nhân chỉ cung cấp khoảng 3% lượng điện cho nhu cầu toàn quốc. Ấn Độ tham vọng sẽ phát triền ngành năng lượng hạt nhân và xây dựng hàng loạt các lò phản ứng Thorium khắp toàn quốc. Sao cho đến năm 2050, ngành năng lượng hạt nhân tại quốc gia này sẽ cung cấp ¼ lượng điện cho cả nước.

Theo thống kê của Hiệp hội Hạt nhân toàn cầu (WNA), than đá cung cấp khoảng 68% lượng điện cho toàn Ấn Độ, tuy nhiên các vấn đề về môi trường liên quan đến khí thải CO2 trong quá trình đốt than đá tại các nhà máy nhiệt điện Ấn Độ đang là vấn đề gây nhức nhối cho dư luận quốc tế.

Ước tính, với tốc độ tiêu thụ điện ngày một gia tăng như hiện nay thì tổng lượng điện tiêu thụ của Ấn Độ sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Và đến năm 2050, dự đoán quốc gia này sẽ tiêu thụ khoảng 5.000 - 6.000 kWh.

Với tốc độ tiêu thụ điện năng như trên thì rõ ràng, than đá với các nhược điểm như ô nhiễm môi trường, trữ lượng hạn chế, sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ điện năng ngày càng gia tăng của Ấn Độ trong tương lai.

Hiệp hội WNA cho biết thêm, Ấn Độ vốn có trữ lượng Uranium nghèo nàn trong khi lại rất dồi dào về Thorium. Đây chính là nguyên nhân giải thích cho việc chính quyền New Delhi tỏ ra rất quyết tâm khi phát triển các lò phản ứng Thorium.

Phong cách “Jugaad” của ngành năng lượng hạt nhân Ấn Độ

Bà Jayita Sarkar, đang bảo vệ luận án tiến sĩ tại Học viện Nghiên cứu quốc tế và Phát triển Geneve trích lời của cựu Chủ tịch Ủy ban Năng lượng hạt nhân Ấn Độ, người từng ví von văn hóa của người dân Ấn Độ giống như chiếc xe “Jugaad”.

Xe “Jugaad” biểu tượng phong cách sống Ấn Độ

Jugaad là một loại xe vận tải thô sơ do người dân Ấn Độ tự chế, nhằm phục vụ nhu cầu giao thông, vận tải và thậm chí là sản xuất nông nghiệp, tiếng lóng “Jugaad” trong ngôn ngữ Ấn Độ ám chỉ sự “sáng tạo nhưng chỉ nhằm đối phó tạm thời hoặc sáng tạo vặt nhưng không đến nơi đến chốn”.

Tuy nhiên, theo bà Jayita Sarka thì, phong cách kiểu “Judgaad” không chỉ nằm ở văn hóa Ấn Độ, mà nó đã ăn sâu và bám rễ cả vào mọi khía cạnh chính trị, kinh tế và cuộc sống thường ngày của người dân Ấn Độ.

Cuối cùng bà Jaysita Sarka đặt ra câu hỏi rằng, phải chăng chính quyền New Delhi lại đang quy hoạch ngành năng lượng hạt nhân quốc gia theo phong cách “Judgaad” hay không?

Giáo sư Arjun Makhijani, chủ tịch Học viện nghiên cứu Môi trường và Năng lượng Ấn Độ nhận xét, chính quyền New Delhi cần cân nhắc kỹ lưỡng và so sánh cẩn thận giữa các ưu điểm Thorium với các ưu điểm của “năng lượng tái tạo” trước khi đưa ra nhận định rằng, Thorium sẽ là “giải pháp hoàn hảo nhất cho ngành năng lượng toàn cầu trong tương lai”.

Theo ông, rõ ràng Thorium có nhiều ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với Uranium. Dù Thorium được đánh giá là ít “rác thải hạt nhân” hơn Uranium, nhưng nhược điểm cố hữu và là bản chất của ngành năng lượng hạt nhân là “rác thải hạt nhân” sẽ không bao giờ giải quyết trọn vẹn được. Rác thải hạt nhân luôn luôn đồng hành với các quy trình phản ứng hạt nhân.

Thử hình dung trong tương lai, khi mà Ấn Độ đã phát triển thành công các lò phản ứng Thorium đến mức có thể thương mại hóa trên toàn cầu, thì có lẽ Đức và các nước Bắc Âu đã hoàn thành được chỉ tiêu cung ứng phần lớn lượng điện sử dụng trong nước nhờ năng lượng tái tạo.

Xét về lâu dài, năng lượng tái tạo vẫn cho thấy những ưu điểm vượt trội nhất trong các dạng năng lượng.

Vậy ngành năng lượng Ấn Độ, hay các quốc gia phương Tây, bên nào sẽ “ăn điểm” hơn?

Không vội đi sâu vào những so sánh giữa Thorium với năng lượng tái tạo. Trước mắt, nếu Ấn Độ phát triển thành công các lò phản ứng Thorium, thì đây có thể coi là bước “đột phá” của nhân loại trong ngành năng lượng hạt nhân nói riêng và ngành năng lượng toàn cầu nói chung.

Tương lai của ngành năng lượng Ấn Độ 

Ấn Độ có trữ lượng Thorium lớn nhất thế giới. Đặt trong bối cảnh cộng đồng quốc tế đang rất sốt sắng với các vấn đề như ô nhiễm môi trường và hướng tới phát triển các nguồn năng lượng sạch, ít khí thải carbon, thì Thorium dường như là một sự lựa chọn tuyệt vời cho Ấn Độ.

So với việc lựa chọn năng lượng tái tạo làm nguồn năng lượng phát triển chính cho tương lai, như các quốc gia phương Tây, thì kế hoạch phát triển năng lượng hạt nhân từ Thorium của Ấn Độ - quốc gia đông dân thứ 2 thế giới vẫn cho thấy tính khả thi, phù hợp và tiết kiệm hơn nhiều trong bối cảnh hiện tại của quốc gia này.

Những cá nhân theo chủ nghĩa hoài nghi đều nhận định rằng, Ấn Độ muốn phát triển các lò phản ứng Thorium, vì một lý do đơn giản là trữ lượng Thorium tại quốc gia này là rất lớn.

Nhưng theo bà Baroness Whorthington, nhà hoạt động đang đấu tranh cho phát triển năng lượng sạch tại Tổ chức Weinberg Foundation thì, Ấn Độ có nhiều lý do để phát triển năng lượng hạt nhân từ Thorium. Và bước tiến của ngành năng lượng hạt nhân tại Ấn Độ sẽ thúc đẩy bước tiến năng lượng hạt nhân chung của toàn nhân loại.

Cuối cùng thì câu hỏi đặtở đây là, giả sử trong tương lai, khi Ấn Độ đã hoàn thành mục tiêu phát triển các lò phản ứng Thorium, thì cái đích tiếp theo của quốc gia này sẽ là gì ?

Ông Matthew Chalmers, nhà báo của Tạp chí Khoa học Physics World, đưa ra nhận định, ngành năng lượng Ấn Độ sẽ không dừng lại ở việc phát triển thành công các lò phản ứng Thorium.

                                        

Nếu thành công về Thorium, thế giới càng thấm thía thêm câu nói “không điều gì là không thể xảy ra tại Ấn Độ”?

Còn cô Angela Saini, tác giả của cuốn sách “Quốc gia kỳ dị": Làm thế nào mà nền khoa học Ấn Độ lại có chỗ đứng trên thế giới” cho biết, trong những năm qua, không hề có một câu chuyện nào về ngành năng lượng Ấn Độ lại đáng chú ý như câu chuyện về Thorium.

Bởi vì các nhà khoa học Ấn Độ đã “âm thầm, lặng lẽ” nghiên cứu Thorium trong suốt nhiều thập kỷ qua, và họ đã chờ đợi rất lâu để có thể đi đến thời điểm mà Ấn Độ có thể xây dựng thành công lò phản ứng Thorium đầu tiên trên thế giới.

Với một quốc gia luôn chứa đựng những “biến số” không thể lường trước được như trong nhận định của cuốn sách “Quốc gia kỳ dị” của cô Angela Saini thì, không điều gì là không thể xảy ra tại Ấn Độ.

Nếu thế giới tin rằng, Ấn Độ như “một chú voi đang dần tỉnh dậy sau giấc mộng trường”, thì họ hãy chuẩn bị để chứng kiến thêm nhiều bất ngờ hơn nữa, khi chú voi đó hoàn toàn thức tỉnh.

                                                                NangluongVietnam.vn




TÒA SOẠN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Phòng 406-407-408, Tòa nhà Văn phòng, số 87 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
Email: toasoan@nangluongvietnam.vn

Liên hệ Thư ký Tòa soạn: Mai Văn Thắng (Hotline: 0969998822)

Liên hệ Giám đốc Trung tâm Đối ngoại: Lê Mỹ (Hotline: 0949723223)

Liên hệ Trung tâm Quảng cáo: Nguyễn Tiến Sỹ (Hotline: 0969998811) - Phan Thanh Dũng (Hotline: 0942632014)

Trang TTĐT của Tạp chí Năng lượng Việt Nam hoạt động theo Giấy phép số: 66/GP-TTĐT, cấp ngày 30/3/2018
của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin - Truyền thông.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3