An ninh năng lượng và Môi trường

Tổng quan ngành công nghiệp cacbon thấp trên thế giới, tiềm năng tại Việt Nam (Kỳ 1)

06:10 |01/06/2012

 - 

Thế giới đang có bước chuyển căn bản sang nền kinh cacbon thấp, giảm phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch, thích ứng với biến đổi khí hậu. Công nghiệp cacbon thấp trở thành nhân tố quan trọng của quá trình chuyển đổi, đóng góp quan trọng nhất trong việc giảm lượng phát thải cacbon của các quốc gia và trên thế giới. Tiếp cận phát triển công nghiệp cacbon thấp trên thế giới khác nhau, phụ thuộc vào tiềm năng và cơ hội của mỗi nước. Việt Nam đang trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và hướng tới phát triển bền vững, vì vậy nghiên cứu và phát triển công nghiệp các bon thấp chính là con đường phù hợp với lộ trình tăng trưởng xanh mà Chính phủ sắp đưa ra trong tháng 6 tới đây.


Ba mục tiêu phát triển nền kinh cacbon thấp của châu Âu: phát triển bền vững, sức cạnh tranh và an ninh cung cấp (Hình minh họa của Europia)



Bối cảnh

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức phát triển lớn nhất mà Đông Nam Á phải đối mặt trong thế kỷ 21.

Theo Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC 2007), trong vòng 150 năm qua, nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu tăng 0,76o C. Sự ấm lên toàn cầu đã gây nên tình trạng biến đổi khí hậu, thể hiện qua những thay đổi về xu hướng mưa và sự gia tăng tần suất và cường độ của những hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến mực nước biển dâng cao.

Nguyên nhân của những hiện tượng thời tiết bất thường là do kết quả của phát thải khí nhà kính do con người gây nên. Đông Nam Á được coi là khu vực dễ tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu. Mặc dù thích ứng là ưu tiên của Đông Nam Á, song khu vực này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc góp sức vào nỗ lực toàn cầu giảm thiểu khí nhà kính, tích cực theo đuổi một chiến lược tăng trưởng cacbon thấp.

Năm 2000, khu vực này đóng góp 12% tổng phát thải khí nhà kính toàn cầu, tương đương 5.187 triệu tấn dioxit cacbon (MtCO2-eq), tăng 27% so với năm 1990. Mức tăng này cao hơn mức tăng trung bình toàn cầu. Nguồn thải lớn nhất trong khu vực là chuyển đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (chiếm 75% lượng phát thải), tiếp đến năng lượng (15%) và nông nghiệp (8%).

Trong đó, tăng nhanh nhất là lĩnh vực năng lượng, mức tăng 83% trong vòng 10 năm từ 1990 - 2000.

Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Do vậy, Chính phủ đang phải nỗ lực hành động nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời một chiến lược tổng hợp cũng đang được triển khai nhằm giảm thiểu phát thải cacbon và tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp như sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo, thực hiện sản xuất sạch hơn, thực chất là hướng đến ngành công nghiệp cacbon thấp.

Trên con đường công nghiệp hóa, tổng phát thải CO2 của Việt Nam dự báo sẽ tăng nhanh trong tương lai cùng với tốc độ tăng dân số và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực được dự báo có tiềm năng giảm thiểu lớn nhờ chuyển đổi năng lượng từ sử dụng than sang khí tự nhiên, sử dụng năng lượng thay thế và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng trong các ngành công nghiệp, nhất là những ngành sử dụng năng lượng lớn.

Khái niệm công nghiệp các bon thấp và năng lượng các bon thấp

Hiện nay, khái niệm “công nghiệp các bon thấp” (low cacbon industry) chưa có định nghĩa chính thức, mặc dù một số nước đã đề ra và đang thực hiện chiến lược phát triển “công nghiệp cacbon thấp”, vì vậy các khái niệm “công nghiệp cacbon thấp” mang tính chiến lược quốc gia hơn là một khái niệm đơn thuần.

Thực ra, khái niệm này xuất phát từ nền kinh tế ít cacbon (Low - carbon economy - LCE), hay còn gọi là nền kinh tế sử dụng ít nhiên liệu hóa thạch (low - fossil fuel economy - LFFE) được định nghĩa là nền kinh tế thải ra ít nhất các khí nhà kính vào bầu sinh quyển. Đây chính là nền kinh tế dịch vụ, nền kinh tế ở các nước phát triển, trong đó các ngành công nghiệp thải nhiều cácbon như: công nghiệp nặng, nhà máy sản xuất dần được chuyển dịch sang các nước đang và kém phát triển.

Ở Anh, khái niệm “công nghiệp cacbon thấp” được hiểu bao gồm 3 nội dung chính: khu vực môi trường (Environmental Sector), năng lượng tái tạo (Renewable Energy Sector), và cacbon thấp mới nổi (Emerging low carbon Sector).

Còn ở Mỹ, công nghiệp cacbon thấp bao hàm nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp (chuyển đổi đất nông nghiệp, canh tác nông nghiệp, lựa chọn cây trồng, sử dụng nước, an ninh lương thực), đến năng lượng tái tạo và chuyển đổi, tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, tòa nhà, xử lý chất thải, chế biến, khai thác tài nguyên. Tất cả các khía cạnh hoạt động công nghiệp liên quan đến phát thải cacbon đều thuộc công nghiệp cacbon thấp.

Năng lượng là phần cơ bản nhất hình thành nên ngành công nghiệp, do vậy để phát triển ngành công nghiệp các bon thấp đồng nghĩa với phát triển nguồn năng lượng này.

Ý tưởng về năng lượng cacbon thấp nảy sinh khi thế giới bị tác động mạnh bởi hiện tượng ấm lên toàn cầu, cần thiết phải cắt giảm lượng phát thải cacbon dioxit ra môi trường.

Năm 1988, Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) được thành lập bởi Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) và Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đã đưa ra khái niệm đầu tiên về năng lượng cacbon thấp (Low carbon power).

IPCC tiếp tục đưa ra các chỉ dẫn về mặt khoa học, kỹ thuật và kinh tế xã hội của năng lượng cacbon thấp đối với cộng đồng, thông qua các nghiên cứu thường niên và chuyên đề.

Bước đi đầu tiên mang tính quốc tế, theo hướng phổ biến năng lượng cacbon thấp chính là việc ký Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol), bắt đầu có hiệu lực thi hành từ 16/02/2005. Theo đó, các nước công nghiệp hóa cam kết giảm phát thải cacbon.

Sự kiện lịch sử trên đây cũng tạo ra các ưu tiên chính sách tại nhiều quốc gia cho phát triển các công nghệ năng lượng cacbon thấp.

Như vậy, năng lượng cacbon thấp là nguồn năng lượng tạo ra ít phát thải khí nhà kính hơn các nguồn năng lượng truyền thống. Năng lượng cacbon thấp bao gồm cả nguồn năng lượng không cacbon (zero cacbon power) như: gió, mặt trời, địa nhiệt và hạt nhân.

Ngoài ra, năng lượng cacbon thấp còn được tính cả nguồn năng lượng có mức phát thải thấp (Lower-level emissions) như: khí tự nhiên và cả công nghệ xử lý cacbon dioxit như công nghệ thu giữ cacbon. Các công nghệ sản sinh năng lượng giảm đáng kể lượng phát thải cacbon so với nhà máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Do đó, khái niệm “ năng lượng cacbon thấp” còn bao gồm các nguồn năng lượng khác như: khí tự nhiên, than, song phải kết hợp với kỹ thuật giảm phát thải cacbon từ trong quá trình đốt nhiên liệu.

Rất nhiều ý kiến cho rằng, sử dụng năng lượng tái tạo (renewable energy), như là cơ sở nền tảng của công nghiệp cacbon thấp.

Tuy nhiên, điều này đi liền với vấn đề chi phí cao và không dễ được chấp nhận vào thời điểm hiện nay, nó chỉ thay đổi một khi giá dầu lên cao và năng lượng hóa thạch trở nên khan hiếm.

Mô hình phát triển các bon thấp trên thế giới

Có thể nói, sự ra đời của Nghị định thư Kyoto là thoả thuận ràng buộc quốc tế có tính pháp lý đầu tiên quy định chỉ tiêu giảm thải khí nhà kính đối với các nước phát triển trên thế giới.

Năm 2007, Costa Rica là nước đầu tiên tuyên bố sẽ trở thành quốc gia không cacbon vào năm 2021 (first carbon neutral country by 2021) với chương trình trồng rừng hiệu quả.

Iceland là nước đi đầu trong việc sử dụng năng lượng mới tái tạo, có thể coi là số ít trong các nền kinh tế ít cacbon trên thế giới. Iceland sử dụng phần lớn năng lượng địa nhiệt, thủy điện và năng lượng mới tái tạo.

Từ 1999, nguồn năng lượng đó chiếm 70% năng lượng sơ cấp của Iceland, và 99,9 % năng lượng điện của Iceland. Kết quả của chính sách như vậy, lượng phát thải cacbon đầu người của Iceland thấp hơn 62% so với Mỹ, mặc dù mức sử dụng năng lượng sơ cấp cao hơn. Iceland đang phấn đấu sử dụng 100% năng lượng tái tạo vào 2050, bằng cách tạo ra nhiên liệu hydrogen (Hydrogen fuel) từ nguồn năng lượng mới.

Úc có kế hoạch chuyển dịch nền kinh tế sang nền kinh tế cacbon thấp. Năm 2001, chính phủ của Thủ tướng Howard đã đưa ra Kế hoạch đặt mục tiêu bắt buộc về sử dụng năng lượng mới (MRET). Năm 2007, kế hoạch MRET được điều chỉnh sử dụng 20% sản lượng điện từ nguồn năng lượng mới vào năm 2020. Năm 2009, Chính phủ của thủ tướng Ruud đã luật hóa một kế hoạch cắt giảm phát thải ngắn hạn, được coi như sự bổ sung vào MRET.

Theo đó, nguồn năng lượng tái tạo sẽ cung cấp 8 - 10% tổng năng lượng quốc gia của Úc và sẽ tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào than và xuất khẩu dường như đi ngược với khái niệm nền kinh tế cacbon thấp được đề ra. Kết quả, không có được sáng kiến thiết thực nào được đưa ra, và mục tiêu trở thành tự nguyện hơn là bắt buộc.

Nước Anh đã ban hành Đạo luật về biến đổi khí hậu, trong đó phác thảo khung kế hoạch chuyển dịch nền kinh tế sang kinh tế cacbon thấp, sau đó đã trở thành Luật vào 26/11/2008. Luật quy định, cắt giảm 80% phát thải CO2 vào năm 2050, so với 1990, cùng với mục tiêu trung gian 26 - 32% vào năm 2020. Nước Anh trở thành nước đầu tiên đưa ra kế kế hoạch cắt giảm CO2 dài hạn vào Luật.

Thụy Điển, với chiến lược khí hậu được phát triển nhất quán từ cuối thập niên 80 của thế kỉ trước, đặt mục tiêu đến năm 2020 giảm 40% lượng phát thải khí nhà kính so với năm 1990 và phát triển năng lượng đạt ít nhất 50% từ các nguồn tái tạo. Năm 2005 chính phủ Thuỵ Điển đã thành lập Hội đồng quốc gia xây dựng một chương trình toàn diện nhằm giảm sự phụ thuộc của nước này đối với xăng dầu, khí thiên nhiên và các nguyên nhiên liệu hóa thạch khác, hướng tới mục tiêu “biến Thuỵ Điển thành một xã hội không sử dụng dầu…”

Braxin là đối tác quan trọng của Chương trình tăng trưởng cacbon thấp (Low Carbon Growth Country Studies Program). Chương trình đặt mục tiêu quan tâm hàng đầu vào sử dụng đất và mô hình chuyển đổi đất, bao gồm cả việc hủy hoại rừng, các phương án sử dụng năng lượng, giao thông, quản lý chất thải và các vấn đề liên ngành.

Kể từ năm 2007, bắt đầu chương trình, một số tác động đã có thể thấy rõ như chi tiết mô hình phát triển các ngành, các kỹ thuật mới, chia sẻ thông tin, và sự hợp tác giữa chính phủ Braxin với các nhóm tư vấn kỹ thuật về biến đổi khí hậu, các bộ, ngành, thể chế và các cơ quan khác của chính phủ. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra đường cong chi phí liên quan đến phát thải khí nhà kính, các mô hình giao thông và đô thị, các kịch bản cacbon thấp đến 2030, các định hướng thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính thông qua giảm phá rừng và diện tích đất nông nghiệp, các cơ hội tiềm năng giảm nhẹ GHG, các phương án chính sách thích ứng.

Trung Quốc đặt ra mục tiêu cắt giảm CO2 trên đơn vị GDP, mức cắt giảm 40 - 45% vào năm 2020 bắt đầu từ 2005. Trung Quốc đang thúc đẩy một chương trình nghiên cứu về nền kinh tế cacbon thấp mở rộng, gắn kết với nghiên cứu đã hoàn thành trước đây về việc áp dụng công nghệ thu giữ cacbon trong sản xuất điện. Thêm vào đó, các ưu tiên của Trung Quốc định hướng vào việc giảm cường độ năng lượng (Energy intensity) với mục tiêu giảm 20% trong vòng 5 năm. Các nghiên cứu cũng đã đưa ra các hướng dẫn chi tiết cho các ngành đặc thù, với các định hướng tăng trưởng cacbon thấp và mục tiêu cụ thể cho 5 năm.

Các mục tiêu nghiên cứu của Trung Quốc là hướng đến các nguồn năng lượng tái tạo, phát triển mô hình sử dụng năng lượng hiệu quả, cách thức phát triển cacbon thấp và gắn với đó là các chính sách. Ba chính sách quan trọng nhất là: (i) Tháo gỡ các rào cản tài chính và học hỏi thực tiễn các nước trong việc phát triển điện chạy than hiệu quả, giảm phát thải; (ii) Đánh giá hiệu quả đầu tư vào lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiểu quả, những tác động xã hội và kinh tế của các phương án chính sách; (iii) Đánh giá lại các mục tiêu sử dụng năng lượng tái tạo, mục tiêu tăng trưởng, các vấn đề chính sách liên quan cản trở thực hiện kế hoạch 5 năm.

Ấn độ đặt mục tiêu quan tâm vào sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Các nghiên cứu hướng đến tạo dựng mô hình theo chiều từ dưới lên, với tăng trưởng cacbon thấp (low carbon Growth). Các nghiên cứu cũng đưa ra các kết quả so sánh với lượng phát thải CO2 của Ấn Độ với các nước có điều kiện tương đồng, xem xét các công nghệ điện chạy than sạch, so sánh phát thải GHG với việc thành lập các nhà máy thủy điện và nhu cầu sử dụng điện, đánh giá chi phí hiệu quả (cost-effectiveness assessment) của các phương án giảm thiểu.

Kết quả của các nỗ lực bước đầu đã đưa Ấn Độ đến gần nền kinh tế cacbon thấp. Ấn Độ hiện là quốc gia có lượng phát thải GHG đầu người thấp nhất thế giới, cường độ năng lượng của nền kinh tế thấp hơn 20% so với trung bình thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ hiện đang thiếu hụt năng lượng, khoảng 400 triệu người chưa được tiếp cận với điện quốc gia, khoảng 800 triệu người sống dưới mức 2USD/ngày và khoảng 75% hộ gia đình còn đang sử dụng năng lượng đun nấu theo cách truyền thống.

Indonesia hướng trọng tâm vào phát triển bền vững. Indonesia có kế hoạch sử dụng năng lượng biến đổi (hạt nhân) để giảm cường độ năng lượng, cùng lúc với cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng. Indonesia có chính sách tín dụng cacbon (carbon credit) nhằm giảm phát thải từ việc phá rừng và suy giảm tài nguyên rừng (REDD), khuyến khích chuyển giao công nghệ và đầu tư cho nghiên cứu công nghệ, sử dụng công cụ tài chính cacbon một cách hiệu quả.

Mehico đặt trọng tâm vào chương trình giảm nhẹ, xem xét tổng hợp các lợi ích kinh tế xã hội và môi trường (cobenefits). Bốn lĩnh vực nghiên cứu quan tâm nhất là: (i) Giao thông, đặc biệt mô hình chia sẻ giao thông công cộng đô thị và sử dụng hiệu quả nhiên liệu; (ii) Công nghiệp sản xuất điện, đặc biệt đồng phát với chi phí năng lượng rẻ và phát triển năng lượng tái tạo; (iii) Sử dụng hiệu quả năng lượng trong cộng đồng, công nghiệp, và lĩnh vực công cộng, (iv) Sử dụng đất, có khả năng tạo ra tiềm năng giảm thiểu cacbon.

Ths. Lê Thành Văn (Viện Tư vấn Phát triển)
Ths. Nguyễn Thị Thu Trang (Viện Chiến lược chính sách công nghiệp)


Kỳ 2: Tiềm năng phát triển ngành công nghiệp các bon thấp ở Việt Nam



® Ghi rõ nguồn: NangluongVietnam.vn khi sử dụng thông tin từ website này.

Based on MasterCMS 2012 ver 2.3